SỰ THẬT
Tuesday, December 24, 2024
Lịch sử tội ác của tên mọi đen Kenya, Barack Hussein Obama
Kể từ khi Barack Hussein Obama được bầu làm tổng thống Mỹ vào năm 2008, mọi sự hỗn loạn vô pháp vô thiên, sự lộng hành chủ nghĩa tự do "đụ lổ đít" của bọn loạn thần kinh LGBTQ và quyền phá hoại giới tính của con nít, sự coi trọng "luật chia đều" hơn là công trạng, sự bỏ tù những người cầu nguyện Thiên Chúa giáo, sự biến cơ quan FBI thành lực lượng cảnh sát mật cho mưu đồ chính trị, sự mở toan cửa biên giới cho ngoại bang tự do xâm nhập, và sự coi trọng cái đúng về mặt chính trị hơn là sự thật và lẽ thường tình - MỌI THỨ - mọi sự điên rồ - đều bắt đầu kể từ đó. Và cũng kể từ đó Hoa Kỳ và phần còn lại của xã hội gốc Do Thái - Thiên Chúa giáo phương Tây, bắt đầu suy thoái văn hóa một cách nhanh chóng.
Barack Hussein Obama là một tên Hồi GIáo cộng sản đồng tính (hắn đã được thấy ôm chặt và nút lưởi một tên đực rựa đầu sỏ của bọn "đụ lổ đít" LGBTQ) vô cùng gian manh xảo trá điên cuồng độc ác và đầy hận thù. Hắn rất thù ghét nước Mỹ, nên hắn đã gây hận thù trên mọi lãnh vực để chia rẽ dân Mỹ, và để phá hoại toàn bộ lãnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội v.v. của nước Mỹ để hắn áp đặt chủ nghĩa xã hội (cộng sản) lên nước Mỹ.
Chẳng hạn như vào năm 2013, hắn chủ động việc đóng cửa chính phủ Mỹ kéo dài đến 17 ngày để hắn nhét cho được chương trình y tế của cộng sản (quốc hửu hóa y tế của nước Mỹ), mệnh danh là Obamacare lên nước Mỹ. Nghĩa là hắn cố gắng đưa y tế tân tiến của Mỹ xuống hàng chó ngựa.
Sau đó hắn đã rước 70 ngàn dân da đen Hồi Giáo Somania qua tiểu bang Minnesota để chúng bầu cho con rắn độc Hồi Giáo Oma vào quốc hội Mỹ. Con rắn độc loạn luân này đã lấy anh ruột của nó để được định cư ở Mỹ, nước mà nó vô cùng căm ghét, để cấu kết với bọn cộng sản và quốc tế hóa, đánh phá nước Mỹ.
Thật ra Obama KHÔNG phải là người Mỹ da đen dù chỉ là phân nửa, hắn không có tư cách để đại diện cho "Mỹ đen" như hắn đã tuyên bố lường gạt người Mỹ da đen. Người Mỹ da đen có nguồn gốc từ 300 năm trước ở Mỹ, nhưng gã đồng tính, cộng sản, Hồi giáo, nửa da đen quỷ quái Obama này có cha là một người Hồi giáo Kenya vào Mỹ vào những năm 1960, và có một người mẹ là một phụ nữ cộng sản da trắng (có lẽ là người Canada) ghét đạo Thiên Chúa, ghét da trắng, ghét văn minh phương tây và ghét Hoa Kỳ, đẻ ra (chưa chắc là đẻ ra ở Mỹ). Hắn ta được Đảng Dân chủ Mỹ, một đảng cộng sản đội lốt dân chủ, chọn để phá hủy Hoa Kỳ, vì hắn thù ghét Hoa Kỳ nhất trong đám đãng viên đãng Dân Chủ Mỹ. Điều này rất dể hiểu, vì là một người Hồi giáo và vừa là cộng sản (hắn tự xưng là xã hội chủ nghĩa gia), nên lòng căm thù Hoa Kỳ của hắn đã ăn sâu vào ruột gan của hắn. Người Mỹ đã tự tử khi họ bầu hắn làm TỔNG THỐNG của đất nước mà hắn muốn phá hủy.
Hắn đã chui vào tòa Bạch Ốc vào những năm 2010, kể từ đó Hắn đã thúc đẩy sự chia rẽ và thù hận chũng tộc, giới tính, giai cấp kinh tế, tôn giáo... ở trong nước Mỹ. Hắn đã sử dụng hết toàn bộ tiền tiết kiệm của liên bang vào trò lừa đảo “công nghiệp xanh” để cuối cùng được sản xuất tại nước cộng sản Trung Quốc, chủ nhân của hắn. Tiếp theo hắn đã tổ chức một thuộc địa kinh tế Thái Bình Dương để phá hủy phần còn lại của nền kinh tế Hoa Kỳ bằng cách “chia sẻ” sự giàu có của Mỹ với các quốc gia “nghèo”. Mục tiêu của hắn là mở đường cho tên cộng sản tiếp theo (Hillary Clinton) lôi cổ nước Mỹ vào “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, do đó hoàn thành việc chinh phục nền kinh tế "tư bản chủ nghĩa" của Hoa Kỳ và giao nó cho tàu cộng.
Song song với công cuộc phá hoại nước Mỹ, hắn đã sử dụng sức mạnh của nước Mỹ và tiền thuế của dân Mỹ để phá hoại thế giới. Chính hắn đã trực tiếp gây ra hai cuộc chiến tranh kinh hoàng đang xảy ra ngay bây giờ. Năm 2011, hắn khởi động gây rối loạn Trung Đông bằng những cuộc kích động bạo lực của các cuộc cách mạng dân chủ giả mạo được mệnh danh là “Mùa xuân Ả Rập”, hắn đã bí mật chi viện cho bọn Hồi giáo cực đoan ISIS nổi dậy chống lại chính quyền và tạo ra sự hỗn loạn ở Trung Đông, Bắc Phi và Tây Á cho tới ngày hôm nay.
Đồng thời hắn đẫy mạnh chương trình đánh phá nước Nga bằng cách ra lệnh cho tay sai khuấy phá nước Ukraine, lật đổ chính phủ dân chủ thân Nga ở Ukraine, áp đặt bọn quốc gia cực đoan chó săn của hắn ở Ukraine để thi hành chính sách bách hại người Nga và để xin xõ gia nhập khối quân sự du côn NATO để chúng đặt vũ khí nguyên tử tiêu diệt nước Nga để thiết lập một thuộc đia kinh tế tư bản đỏ khồng lồ ở Đông Âu để "cạnh tranh" tội ác với cái động mãi dâm kinh tế của tàu cộng.
Năm 2016 khi người dân Mỹ bầu cho ông Trump, hắn và toàn bộ băng đãng Dân Chủ đã bị hụt hẫn nên trong suốt thời gian 4 năm ông Trump làm Tổng Thống, hắn đã kín đáo điều khiễn "nhà nước sâu" (bọn Dân Chủ Mỹ và bè lủ quốc tế hóa) dựng chuyện đàn hạch đánh phá Tổng Thống Trump một cách điên cuồng, hắn thành lập tổ chức ANTIFA, một băng đãng bạo lực khũng bố và kỳ thị chũng tộc đi đánh phá khắp nước Mỹ. Năm 2020, hắn đã âm thầm cấu kết với đãng cộng sản Trung Quốc, tung ôn dịch COVID19 giã tạo từ hang ổ vi trùng ở thành phố Vũ Hán của tàu cộng để cướp cuộc bầu cử Tổng Thống của ông Trump, và đồng thời để “bịt mõm chó” kềm kẹp người dân Mỹ. Sau đó cộng sản Mỹ đã bắt người dân phải chích ngừa để chúng tiêm thuốc độc giết bớt dân số để chúng khống chế nước Mỹ và toàn thế giới.
Sau khi cướp được ghế Tổng Thống Mỹ năm 2020, hắn gài tên "chó trắng" tay sai, Joe Biden, của hắn vào tòa Bạch Ốc và ra lệnh cho nó dốc toàn lực tiêu diệt nước Mỹ trên mọi phương diện. Khi Tổng Thống Trump quay trở lại tranh cử, hắn đã phối hợp điều khiển bọn nhà nước sâu và bọn nhà nước cạn (chánh phủ Mỹ do tàu cộng và Mỹ cộng thao túng) của tên chó ngoan của hắn (Joe Biden) dùng các cơ quan chính phủ liên bang và vài tiểu bang dưới sự điều khiễn của đãng Dân Chủ, làm công cụ chính trị dựng chuyện bách hại và cầm tù người Mỹ quốc gia, và dựng chuyện đánh phá Tổng Thống Trump hòng ngăn cản không cho ông ra tranh cử.
Khi mọi thứ đánh phá hình sự thất bại vì bị phản ứng ngược, nghĩa là càng làm cho uy tín của Tồng Thống Trump tăng lên, thì hắn (người viết nghi rằng có thể hắn đã nhận lệnh của đãng cộng sản Trung Quốc) ra lệnh cho tên tay sai Joe Biden ra lệnh cho cơ quan FBI giết Tồng Thống Trump vào ngày 13 tháng 7, 2024. Nhưng nhờ ơn Chúa Quan Phòng, ông Tồng Thống Trump đã được thoát nạn, bình an và thắng cử Tồng Thống.
Cho tới ngày hôm nay (24/12/2024) hắn vẩn tiếp tục núp sau bức màn Dân Chủ cuội của bọn cộng sản Mỹ, của bọn quốc tế hóa và tàu cộng, đánh phá công cuộc cứu nước Mỹ của Tồng Thống Trump và người Mỹ quốc gia.
Sunday, February 25, 2018
ÂM MƯU THỐNG TRỊ THẾ GIỚI CỦA TÀU CỘNG
Thế giới bị Tàu cộng đánh lừa vì nghĩ rằng trong một
số năm nhất định, kỹ nghệ Trung Quốc sẽ bắt kịp
Mỹ. Và một lừa bịp khác có vẻ như ngược lại đó
là: "Tàu cộng không bao giờ có thể đánh bại Hoa Kỳ
về quân sự". Sự thật là cả hai đều không đúng.
Kỹ nghệ Trung Quốc không bao giờ có thể bắt kịp Hoa
Kỳ bất chấp bao lâu, thậm chí hàng tỷ năm và lý do
thì rất là đơn giản: Trung Quốc không có công
nghiệp hóa, kinh tế Trung Quốc là tư bản hóa từ chủ nghĩa cộng
sản nghèo nàn và không một quốc gia nào có thể phát
triển thật sự bằng tư bản hóa vì nó không có kỹ
nghệ thật. Ý tưởng Trung Quốc không thể bắt kịp Hoa
Kỳ giống như ý tưởng một thầy pháp không thể bắt
kịp một nhà khoa học, cho dù bao lâu vì thầy pháp không
có khoa học thật.
Trong khi câu trả lời cho sự lừa bịp thứ nhất là
"không, công nghiệp Trung Quốc không thể bắt kịp
Hoa Kỳ", câu trả lời cho sự lừa bịp thứ hai là
ngược lại: "Vâng, Trung Quốc có thể đánh bại hải quân Hoa Kỳ ". Tại sao câu trả lời sau mâu thuẫn
với câu trả lời trước? Lý do sẽ được giải thích
trong bài viết này.
Tàu cộng mắc chứng bệnh tự kỷ, do đó chúng rất nguy
hiểm. Mục đích của Tàu cộng không nhằm bảo vệ quê
hương của chúng và bảo vệ tuyến đường thương mại
như chúng tuyên bố, mục đích của chúng là bá chủ Á
châu và thống trị thế giới. Mục tiêu của chúng là
đuổi Hoa Kỳ ra khỏi Thái Bình Dương sau đó cướp các
lãnh thổ và các nguồn tài nguyên trong khu vực. Có 3 giai
đoạn cho mục tiêu này như sẽ được giải thích sau.
Tàu cộng sử dụng chủ nghĩa tư bản Mác xít để kiếm
tiền và sử dụng tiền để chế tạo vũ khí bằng công
nghệ vũ khí đánh cắp từ Mỹ. Cuối cùng chúng phải
thống trị thế giới để duy trì quyền lực bất hợp
pháp của chúng để cai trị Trung Quốc mãi mãi. Chủ
nghĩa tư bản Mác-xít không thể làm cho xã hội Trung
Quốc phát triển một cách thanh bình vì nó không thể
tiêu diệt được các nền dân chủ và làm cho thế giới
phải phục tùng bằng tiền; do đó, Tàu cộng phải chiếm
thế giới bằng vũ lực. Các nước phương Tây càng
nhượng bộ Tàu cộng để đạt được hòa bình, càng
khuyến khích chúng đi vào chiến tranh. Vì Trung Quốc có
gấp 5 lần dân số lớn hơn Hoa Kỳ, trong một cuộc
chiến toàn diện với Mỹ, chúng có khả năng áp đảo
Mỹ.
Bằng chủ nghĩa tư bản Mác xít và sau đó là quân sự,
Tàu cộng sử dụng Trung Hoa để chiếm thế giới, bắt
đầu với sự thống trị Thái Bình Dương. Tại sao lại
là Thái Bình Dương? Bởi vì Hoa Kỳ là sức mạnh quân sự
đáng gờm duy nhất có thể ngăn chặn chúng, và Thái
Bình Dương là nơi mà Hoa Kỳ và các đồng minh đáng gờm
của Hoa Kỳ có mặt quân sự kể từ Thế chiến thứ
hai. Vì vậy điều quan trọng đầu tiên là Tàu cộng phải
đẩy Hoa Kỳ ra khỏi khu vực Thái Bình Dương. Xâm lược
là bản chất của Tàu cộng và Hoa Kỳ luôn là kẻ thù
hàng đầu của chúng. Mục tiêu tối thượng của chúng
là tiêu diệt Hoa Kỳ vì chỉ có Mỹ là nước có khả
năng và ý định ngăn chặn chúng. Tàu cộng tẩy não
người dân Trung Quốc rằng Hoa Kỳ là một đế quốc
xừng xỏ, rằng dân chủ là đồng nghĩa với chủ nghĩa
tư bản. Tàu cộng thần thánh hóa chủ nghĩa xã hội và
sử dụng nó như một chứng từ rằng chúng là "những
kẻ tốt". Sự thật là không có cái gì là chủ nghĩa
tư bản và không có cuộc chiến tranh chủ nghĩa tư bản
chống chủ nghĩa xã hội, mà đúng hơn là có chiến tranh
giữa bọn côn đồ Tàu cộng điên cuồng chống lại dân
chủ tự do và các quyền quốc gia lành mạnh . Đây không
phải là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ
nhưng là cuộc chiến tranh giữa bọn côn đồ Tàu cộng
chống lại thế giới tự do (như trong cuộc chiến Triều
Tiên).
Sau khi Tàu cộng thành công trong việc xây
dựng một ngôi nhà thổ kinh tế toàn cầu, thì chúng có
đủ tiền để trang bị cho mình vủ khí tận răng, và
chúng đã làm việc này hơn 3 thập kỷ nay. Chúng tin rằng
nếu chủ nghĩa tư bản Mác-xít không thể diệt được
Hoa Kỳ, ít nhất nó làm cho Mỹ yếu đi và cây súng sẽ
dứt điểm Mỹ. Nếu súng không thể giết chết Hoa Kỳ,
ít nhất nó có thể làm Hoa Kỳ sợ hãi và cút ra khỏi
khu vực.
Tàu
cộng đã xử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan để
kích động người dân Trung Quốc, bằng cách khai quật
cái gọi là "thế kỷ của sự nhục nhã", thời
gian mà người thực dân phương Tây và người phát xít
phương đông (Nhật Bản) đã phạm tội ác chống lại
người Trung Quốc trước và trong thế chiến thứ 2. Bị
kích thích bởi cái ác cảm cũ này, Người dân Trung Quốc
đã trở thành những người điên cuồng mù quáng với
hận thù, phục hận, căm giận vô lý, sẵn sàng phục vụ
cuộc chinh phục thế giới của Tàu cộng.
Tuyên bố bảo vệ các chuyến hàng thương mại của chúng
đến và đi từ Trung Quốc, đặc biệt tại một số nơi
như eo đảo Malaca; và bắt chước một phiên bản của
thuyết Monroe Mỹ cho Trung Quốc, Tàu cộng đã thành lập
các pháo đài ở Thái Bình Dương (các bức tường lớn
của Thái Bình Dương) theo ba giai đoạn bao gồm 3 vùng của
Thái Bình Dương. Ba giai đoạn thống trị Thái Bình Dương
này kéo dài 30 năm - từ năm 2020 đến năm 2050.
Giai đoạn 1: Chuỗi đảo đầu tiên.
Từ các hòn đảo Kurl phía bắc Nhật Bản đến các hòn đảo Ryukyu phía nam Nhật Bản tới Đài Loan. Và từ Nam Đài Loan dọc theo các hòn đảo của Philippine đến Brunei sau đó lượn lên như một lưởi bò dọc theo bờ biển Việt Nam tới Hải Nam.
Giai đoạn 2: Chuỗi đảo thứ hai.
Từ bắc Nhật dọc theo đông bắc Nhật Bản đến đảo Iwo Jima sau đó đến đảo Guam và đảo Mariana. Từ đảo Mariana đến Palau và dừng lại ở Indonesia gần New Guinea.
Giai đoạn 3: Giai đoạn thứ ba bao gồm việc mở rộng hải quân Tàu cộng ngoài chuổi đảo thứ hai đến hòn đảo Hawaii. Và sự thống trị bằng vũ lực nếu cần thiết tất cả các quốc gia bên trong.
Từ các hòn đảo Kurl phía bắc Nhật Bản đến các hòn đảo Ryukyu phía nam Nhật Bản tới Đài Loan. Và từ Nam Đài Loan dọc theo các hòn đảo của Philippine đến Brunei sau đó lượn lên như một lưởi bò dọc theo bờ biển Việt Nam tới Hải Nam.
Giai đoạn 2: Chuỗi đảo thứ hai.
Từ bắc Nhật dọc theo đông bắc Nhật Bản đến đảo Iwo Jima sau đó đến đảo Guam và đảo Mariana. Từ đảo Mariana đến Palau và dừng lại ở Indonesia gần New Guinea.
Giai đoạn 3: Giai đoạn thứ ba bao gồm việc mở rộng hải quân Tàu cộng ngoài chuổi đảo thứ hai đến hòn đảo Hawaii. Và sự thống trị bằng vũ lực nếu cần thiết tất cả các quốc gia bên trong.
Nếu tất cả mọi thứ đi theo kế hoạch,
Tàu cộng sẽ tấn công hải quân Nhật Bản, Philippine và
Mỹ, và xâm chiếm những hòn đảo tạo ra chuỗi đầu
tiên để hoàn thành giai đoạn 1 cho mục tiêu của chúng
vào năm 2020. Hai giai đoạn khác sẽ được tiến hành sau
đó cho đến khi hoàn thành vào năm 2050. Làm thế nào mà
Tàu cộng có khả năng đối mặt với hải quân Hoa Kỳ?
Bởi vì chúng biết rằng chúng sẽ chiến thắng trong một
cuộc chiến tranh hải quân thông thường với Mỹ và Mỹ
sẽ tránh chiến tranh hạt nhân. Điều gì khiến chúng tự
tin như vậy? Đây là chiến lược của chúng để đánh
bại hải quân Hoa Kỳ: chiến lược khu vực-từ chối-chống
xâm nhập(AAAD) và phối hợp với chiến lược chiến
tranh bất đối xứng.
Chiến lược AAAD nhằm mục đích đuổi
các lực lượng hải quân Hoa Kỳ ra khỏi các quần đảo
thứ nhất và thứ hai của Thái Bình Dương. Chiến tranh
bất đối xứng là một chiến lược mới được thiết
kế để chống lại quân đội có công nghệ tiên tiến
và vũ khí đắt tiền (như hải quân Hoa Kỳ), sử dụng
vũ khí rẻ tiền, do đó tránh phải đối mặt với lực
lượng Hoa Kỳ trên cơ sở vũ khí đối vủ khí.
Tàu
cộng sử dụng hỏa tiển, mìn và tàu ngầm cùng với vũ
khí không gian và không gian mạng để thực hiện chiến
lược AAAD kết hợp với chiến lược Không đối xứng.
Ý chính của AAAD là mở rộng phạm vi đạn đạo từ đất
liền Trung Quốc ra biển Thái Bình Dương để gây nguy
hiểm cho các hàng không mẩu hạm và các hạm đội Hoa
Kỳ, từ đó phủ nhận việc Hoa Kỳ xâm nhập vùng biển
này. Bằng cách sử dụng "pháo thuyền", không tốn
kém và rất thông thường nhưng với số lượng lớn, Tàu
cộng đầu tư vào các hỏa tiển đạn đạo và hỏa tiển
hành trình thông thường, vũ khí đại dương chống hàng
không mẩu hạm trên đất liền, những "pháo thuyền"
tầm ngắn với hỏa tiển chống tàu sân bay, có thể được
gửi đi từ bờ biển với số lượng lớn để đánh bại
hạm đội Hoa Kỳ.
Từ đất liền, Tàu cộng sẽ xâm chiếm
quần đảo đầu tiên và thành lập các pháo đài trên đó
để mở rộng AAAD về hướng đông. Nếu giai đoạn đầu
tiên thành công, chuỗi đảo đầu tiên được sử dụng
để mở rộng phạm vi bắn AAAD bao gồm đến chuỗi đảo
thứ hai. hỏa tiển đạn đạo từ căn cứ đất đai rất
khó để đối phó, nghĩa là để bao vây, phát hiện và
ngăn chặn chúng tấn công các hạm đội, đặc biệt là
các hàng không mẩu hạm. Trong vòng 2000 km, các hỏa tiển
đạn đạo chống hàng không mẩu hạm rất hiệu quả.
Tuy nhiên, mục tiêu thực sự của chiến
lược vũ khí của Tàu cộng là nhằm đe doạ các hàng
không mẩu hạm Hoa Kỳ và nâng cao nhận thức về chi phí
để đối phó khủng khiếp đến mức Hoa Kỳ không thể
can thiệp, như vậy là chúng "giành chiến thắng mà
không cần chiến đấu". Chúng ngăn cản Hoa Kỳ can
thiệp hoặc ít nhất là trì hoãn sự can thiệp của Hoa
Kỳ đủ thời gian để chúng lấn chiếm chuỗi đảo và
đưa Mỹ và thế giới vào sự chấp nhận (phủ
phục).
Đây là danh sách vũ khí của Tàu cộng, ăn cắp của Mỹ và trang bị để đánh Mỹ.
Đây là danh sách vũ khí của Tàu cộng, ăn cắp của Mỹ và trang bị để đánh Mỹ.
hỏa tiển
Trung Quốc ngày nay có số lượng hỏa tiển có khả năng mang đầu đạn hạt nhân lớn nhất thế giới. hỏa tiển đạn đạo xuyên lục địa Liên lục địa (ICBM) DS31, DS31A. ICBM DS41 mới với phạm vi rộng đe dọa tất cả các nước trong khu vực. Những hỏa tiển này được sử dụng với số lượng lớn để tiêu diệt các phi trường đối phương để máy bay không thể cất cánh, do đó giúp không quân của chúng khống chế không gian.
Các loại hỏa tiển đạn đạo cực nhẹ DF21D với hỏa tiển đạn đạo chống tàu hăm dọa nguy hiểm cho hàng không mẩu hạm Hoa Kỳ. Các hỏa tiển siêu âm đi tốc độ gấp 10 lần tốc độ âm thanh và làm cho hỏa tiển phòng thủ chống lại đạn đạo không còn hiệu quả.
Trung Quốc ngày nay có số lượng hỏa tiển có khả năng mang đầu đạn hạt nhân lớn nhất thế giới. hỏa tiển đạn đạo xuyên lục địa Liên lục địa (ICBM) DS31, DS31A. ICBM DS41 mới với phạm vi rộng đe dọa tất cả các nước trong khu vực. Những hỏa tiển này được sử dụng với số lượng lớn để tiêu diệt các phi trường đối phương để máy bay không thể cất cánh, do đó giúp không quân của chúng khống chế không gian.
Các loại hỏa tiển đạn đạo cực nhẹ DF21D với hỏa tiển đạn đạo chống tàu hăm dọa nguy hiểm cho hàng không mẩu hạm Hoa Kỳ. Các hỏa tiển siêu âm đi tốc độ gấp 10 lần tốc độ âm thanh và làm cho hỏa tiển phòng thủ chống lại đạn đạo không còn hiệu quả.
Mìn biển
Trung Quốc ngày nay có số lượng mìn biển với cầu chì thông minh (mìn biển thông minh) lớn nhất thế giới. Mìn biển này có thể phát hiện loại tàu để bắn ngư lôi của chúng vào (mìn tự hành). Thêm nửa là hạm vụ quét mìn biển rất khó làm. Bằng cách đặt các mìn biển ở đại dương, Tàu cộng có thể cản trở hải quân Hoa Kỳ không thể bảo vệ các đồng minh một cách rẻ tiền và hiệu quả.
Tàu ngầm
Tàu cộng có tàu ngầm rất yên lặng với hỏa tiển hành trình chống hàng không mẩu hạm và ngư lôi tốc độ cao, cả hai loại chạy bằng điện diesel và điện hạt nhân. Đến năm 2020, Tàu cộng có hơn 80 tàu ngầm thông thường, rất hiện đại, yên tĩnh và nguy hiểm cho các tàu chiến của mỹ. Tàu ngầm hạt nhân của Tàu cộng có hỏa tiển đạn đạo (NBMS) có thể tấn công Seattle và Los Angeles bằng vủ khí hạt nhân và Tàu cộng tiếp tục tăng cường NBMS trong khi Hoa Kỳ giảm kho vũ khí NBMS xuống khoảng 40 vào năm 2020.
Trung Quốc ngày nay có số lượng mìn biển với cầu chì thông minh (mìn biển thông minh) lớn nhất thế giới. Mìn biển này có thể phát hiện loại tàu để bắn ngư lôi của chúng vào (mìn tự hành). Thêm nửa là hạm vụ quét mìn biển rất khó làm. Bằng cách đặt các mìn biển ở đại dương, Tàu cộng có thể cản trở hải quân Hoa Kỳ không thể bảo vệ các đồng minh một cách rẻ tiền và hiệu quả.
Tàu ngầm
Tàu cộng có tàu ngầm rất yên lặng với hỏa tiển hành trình chống hàng không mẩu hạm và ngư lôi tốc độ cao, cả hai loại chạy bằng điện diesel và điện hạt nhân. Đến năm 2020, Tàu cộng có hơn 80 tàu ngầm thông thường, rất hiện đại, yên tĩnh và nguy hiểm cho các tàu chiến của mỹ. Tàu ngầm hạt nhân của Tàu cộng có hỏa tiển đạn đạo (NBMS) có thể tấn công Seattle và Los Angeles bằng vủ khí hạt nhân và Tàu cộng tiếp tục tăng cường NBMS trong khi Hoa Kỳ giảm kho vũ khí NBMS xuống khoảng 40 vào năm 2020.
Chiến tranh không gian mạng (Chiến tranh thông tin)
Trong 3 thập kỷ nay, Tàu cộng đã xách động một cuộc chiến tranh không gian mạng chống lại Hoa Kỳ với 4 hoạt động chính
1) Phá và Trộm bí mật quân sự
2) phá và Trộm tài sản trí tuệ
3) Tiêu hủy cơ sở hạ tầng quan trọng
4) Gây rối thị trường tài chính Hoa Kỳ
Tàu cộng tổ chức một đội ngủ nhân viên dân sự và quân sự khổng lồ để điều hành một cuộc tấn công không gian mạng chống lại chính phủ Hoa Kỳ và các khu vực tư nhân để làm gián đoạn, vô hiệu hóa và phá huỷ các hệ thống điều hành dân sự và quân sự của Hoa Kỳ. Ngoài ra, các cuộc tấn công không gian mạng không hạn chế của Tàu cộng còn ăn cắp thông tin từ tất cả các loại dịch vụ quân sự, công nghiệp và thương mại như ngân hàng, thẻ tín dụng, điện, kiểm soát không lưu, chứng khoán, bệnh viện, hệ thống xử lý nước vv. Hành động gián điệp mạng và trộm cắp các hệ thống vũ khí của Mỹ của Tàu cộng đã là một hành động chiến tranh chống lại Hoa Kỳ.
Trong 3 thập kỷ nay, Tàu cộng đã xách động một cuộc chiến tranh không gian mạng chống lại Hoa Kỳ với 4 hoạt động chính
1) Phá và Trộm bí mật quân sự
2) phá và Trộm tài sản trí tuệ
3) Tiêu hủy cơ sở hạ tầng quan trọng
4) Gây rối thị trường tài chính Hoa Kỳ
Tàu cộng tổ chức một đội ngủ nhân viên dân sự và quân sự khổng lồ để điều hành một cuộc tấn công không gian mạng chống lại chính phủ Hoa Kỳ và các khu vực tư nhân để làm gián đoạn, vô hiệu hóa và phá huỷ các hệ thống điều hành dân sự và quân sự của Hoa Kỳ. Ngoài ra, các cuộc tấn công không gian mạng không hạn chế của Tàu cộng còn ăn cắp thông tin từ tất cả các loại dịch vụ quân sự, công nghiệp và thương mại như ngân hàng, thẻ tín dụng, điện, kiểm soát không lưu, chứng khoán, bệnh viện, hệ thống xử lý nước vv. Hành động gián điệp mạng và trộm cắp các hệ thống vũ khí của Mỹ của Tàu cộng đã là một hành động chiến tranh chống lại Hoa Kỳ.
Tàu cộng ăn cắp tất cả các công nghệ vũ khí của Mỹ.
Ví dụ, Tàu cộng đã đánh cắp công nghệ Aegis và sao
chép nó để trang bị các tàu khu trục hỏa tiển dẫn
đường tuần tra biển Nam Trung Quốc tức là biển đông
VN. Công nghệ hỏa tiển đạn đạo liên lục địa đã
bị đánh cắp từ Mỹ trong thời gian của chính quyền
Clinton. Tàu cộng đã đánh cắp công nghệ máy bay chiến
đấu F35 trong thời gian của chính quyền Bush. Vào thời
điểm đó, Tàu cộng đã đánh cắp chiếc máy bay chiến
đấu thế hệ mới thứ 5 (máy bay ném bom tàng hình) và
sao chép chúng để chế tạo máy bay ném bom tàng hình của
chúng (máy bay chiến đấu tàng hình J20). Tàu cộng đã
đánh cắp công nghệ máy bay không người lái drone của
Mỹ trong thời chính quyền Obama và làm giống hệt cho
máy bay của chúng.
Bằng phương thức sản xuất hợp đồng và hợp đồng
phụ, Tàu cộng đã có thể đánh cắp hầu hết tất cả
các máy móc đánh nhau, chiến đấu và máy móc chiến
tranh của Mỹ. Hệ thống chiến đấu Aegis, máy bay trực
thăng Black Hawk, máy bay chiến đấu F / A 18, F22, máy bay
chiến đấu F35, tàu chiến Litoral, hỏa tiển phòng không
Patriot, trạm cao độ phòng thủ, phi cơ không người lái,
V22 Osprey Tilt Rotor Aircraft vv ... hầu như tất cả và công
nghệ tự vệ và tấn công đều đã bị đánh cắp.
Chiến tranh không gian
Tàu cộng cũng cố gắng kiểm soát và chiếm ưu thế không gian vì chúng biết rằng vệ tinh không gian quyết định kẻ chiến thắng trong một cuộc chiến tranh tối tân. Tàu cộng xây dựng 4 trung tâm vũ trụ ở Trung Quốc, tất cả đều do công nghệ vũ trụ bị chúng đánh cắp từ Mỹ. Tàu cộng đang cố gắng thiết lập một hệ thống vệ tinh laze quỹ đạo cao để thống trị các vệ tinh quỹ đạo thấp hơn của Mỹ. Tàu cộng phát triển vũ khí chống vệ tinh trong không gian với các công nghệ ăn đánh cắp từ Mỹ như hỏa tiển trực tiếp, Jammer điện tử, vủ khí Laser Dazzling, Hard Kill và Soft Kill Satellite Vệ tinh ... nhằm phá hủy vệ tinh Mỹ.
Trong vùng biển Thái Bình Dương, có ba điểm nóng có thể được sử dụng bởi Tàu cộng để gây chiến với Hoa Kỳ.
Tàu cộng cũng cố gắng kiểm soát và chiếm ưu thế không gian vì chúng biết rằng vệ tinh không gian quyết định kẻ chiến thắng trong một cuộc chiến tranh tối tân. Tàu cộng xây dựng 4 trung tâm vũ trụ ở Trung Quốc, tất cả đều do công nghệ vũ trụ bị chúng đánh cắp từ Mỹ. Tàu cộng đang cố gắng thiết lập một hệ thống vệ tinh laze quỹ đạo cao để thống trị các vệ tinh quỹ đạo thấp hơn của Mỹ. Tàu cộng phát triển vũ khí chống vệ tinh trong không gian với các công nghệ ăn đánh cắp từ Mỹ như hỏa tiển trực tiếp, Jammer điện tử, vủ khí Laser Dazzling, Hard Kill và Soft Kill Satellite Vệ tinh ... nhằm phá hủy vệ tinh Mỹ.
Trong vùng biển Thái Bình Dương, có ba điểm nóng có thể được sử dụng bởi Tàu cộng để gây chiến với Hoa Kỳ.
Bắc Triều Tiên
Bắc Hàn (BH) được Tàu cộng sử dụng như một con chó điên mà Tàu cộng có thể xả chuồng khi cần thiết. Tàu cộng không bao giờ muốn mất BH vào tay NH vì chúng không muốn một "con rối của Mỹ" chiếm toàn bộ bán đảo Triều Tiên, quá gần chúng. Nếu BH sụp đổ thì sẽ có xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc dành ảnh hưởng Hàn Quốc. BH là một quốc gia côn đồ, một con chó điên đã kích động đánh phá NH nhiều lần trong quá khứ. Một cuộc tấn công bằng vũ khí thông thường của BH đánh NH sẻ nhận được một sự phản ứng mãnh liệt của NH, và một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân của BH đánh NH có nghĩa là BH sẽ bị xóa sổ trên bản đồ của trái đất bởi Mỹ. Kịch bản này sẻ thu hút Trung Quốc vào cuộc chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ.
Bắc Hàn (BH) được Tàu cộng sử dụng như một con chó điên mà Tàu cộng có thể xả chuồng khi cần thiết. Tàu cộng không bao giờ muốn mất BH vào tay NH vì chúng không muốn một "con rối của Mỹ" chiếm toàn bộ bán đảo Triều Tiên, quá gần chúng. Nếu BH sụp đổ thì sẽ có xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc dành ảnh hưởng Hàn Quốc. BH là một quốc gia côn đồ, một con chó điên đã kích động đánh phá NH nhiều lần trong quá khứ. Một cuộc tấn công bằng vũ khí thông thường của BH đánh NH sẻ nhận được một sự phản ứng mãnh liệt của NH, và một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân của BH đánh NH có nghĩa là BH sẽ bị xóa sổ trên bản đồ của trái đất bởi Mỹ. Kịch bản này sẻ thu hút Trung Quốc vào cuộc chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ.
Tàu cộng đang chơi một trò chơi nước đôi với BH. Một
mặt Tàu cộng giả vờ rằng chúng muốn ngừng tham vọng
hạt nhân của BH, nhưng mặt khác, và đồng thời, cánh
tay lông lá của Tàu cộng đã cung cấp cho BH nguyên liệu
sản xuất vũ khí hạt nhân. Vào năm 2012, Tàu cộng bán 6
hỏa tiển di động mang tên KN-08 có tầm bắn 5.500 km và
có khả năng mang đầu đạn hạt nhân với các thiết bị
phóng ICBM được sản xuất tại Trung Quốc. Những dàn
phóng này có thể tấn công cả Alaska và California.
Tàu cộng đang mua thời gian để nuôi lớn con chó điên
của chúng. Mục đích là làm cho BH có vủ khí nguyên tử
và có một nền kinh tế mạnh mẽ (không có nền kinh tế
cộng sản nào là mạnh mẽ nhưng nền kinh tế Cộng sản
BH được chăm sóc bởi tư bản đỏ Tàu cộng). BH sẽ
không từ bỏ chương trình hạt nhân vì nó rất quan trọng
cho chế độ độc tài sống sót, và bởi vì chúng nhận
đầy đủ sự ủng hộ và chỉ huy của quan thầy Tàu
cộng. Trên thực tế, Tàu cộng đã lên kế hoạch cuộc
chiến tranh hạt nhân với Hoa Kỳ và chúng bắt đầu phát
tán vũ khí hạt nhân cho bất cứ nước nào chống đối
Hoa Kỳ.
Tàu
cộng đã đánh cắp công nghệ hạt nhân của Mỹ từ
cuối những năm 1980 khi mà Tàu cộng đã xâm nhập vào
các phòng thí nghiệm vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và
tiếp cận với các loại vũ khí đã được triển khai ở
khu vực hạt nhân của Hoa Kỳ như đầu đạn W88 cho tàu
ngầm Trident D5 phóng hỏa tiển đạn đạo. Vào những năm
1990, Tàu cộng đã đánh cắp hạt nhân bí mật từ Mỹ
và chuyển sang Pakistan, cho một tay buôn bán vũ khí tên là
A Q Khan, người sau đó đã truyền bí mật vủ khí nguyên
tử ra khắp thế giới, đặc biệt là cho những nước
ghét Mỹ như Iran và BH.
Tàu cộng Sử dụng Pakistan để phổ biến vũ khí hạt
nhân cho Iran, Libya, Syria và BH. Mục đích là để làm Mỹ
mất cân bằng và trong trường hợp một cuộc chiến
tranh hạt nhân với Hoa Kỳ, Tàu cộng có các đồng minh
vũ trang hạt nhân đủ mạnh để tiêu diệt Hoa Kỳ. BH và
Iran đã cùng bắt tay trong tham vọng phát triền vủ khí
hạt nhân với Tàu cộng đứng phía sau. Mục đích của
TC là truyền bá công nghệ vủ khí hạt nhân chúng đánh
cắp từ Mỹ tới tất cả các kẻ thù của nước Mỹ.
Mục tiêu là tiêu diệt Mỹ trong một cuộc chiến tranh
hạt nhân không thể tránh khỏi trong tương lai.
Và Hoa Kỳ đã không làm gì để ngăn chặn được bọn côn đồ nhất, đó là Tàu cộng.
Và Hoa Kỳ đã không làm gì để ngăn chặn được bọn côn đồ nhất, đó là Tàu cộng.
Đài Loan
Nền dân chủ hưng thịnh của Đài Loan là một mối đe dọa chính trị đối với quy tắc du côn của Tàu cộng. Tàu cộng sợ rằng dân chủ từ Đài Loan sẽ lan sang lục địa Trung Hoa, và trong lục địa Trung Hoa người ta đã tự coi mình là một người Đài Loan hơn là một người Trung Quốc. Cái được gọi là kinh tế thị trường gắn bó với Đài Loan chỉ là một bình phong để "mua Đài Loan" bằng tiền. Và nếu thất bại, Tàu cộng sẽ xâm chiếm Đài Loan bằng bạo lực. Tàu cộng sử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan để người Trung Hoa tin rằng Tàu cộng đang chiến đấu vì niềm tự hào quốc gia của họ chống lại những gì mà bộ máy tuyên truyền gọi là "thế kỷ của sự nhục nhã" và Đài Loan là mảnh đất cuối cùng của đất mẹ đã bị các kẻ thù của Trung Hoa cướp mất và nó phải được "đoàn tụ". Vì vậy, sau giai đoạn đầu của chương trình thống trị Thái Bình Dương, Đài Loan sẽ bị Tàu cộng cướp.
Nền dân chủ hưng thịnh của Đài Loan là một mối đe dọa chính trị đối với quy tắc du côn của Tàu cộng. Tàu cộng sợ rằng dân chủ từ Đài Loan sẽ lan sang lục địa Trung Hoa, và trong lục địa Trung Hoa người ta đã tự coi mình là một người Đài Loan hơn là một người Trung Quốc. Cái được gọi là kinh tế thị trường gắn bó với Đài Loan chỉ là một bình phong để "mua Đài Loan" bằng tiền. Và nếu thất bại, Tàu cộng sẽ xâm chiếm Đài Loan bằng bạo lực. Tàu cộng sử dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan để người Trung Hoa tin rằng Tàu cộng đang chiến đấu vì niềm tự hào quốc gia của họ chống lại những gì mà bộ máy tuyên truyền gọi là "thế kỷ của sự nhục nhã" và Đài Loan là mảnh đất cuối cùng của đất mẹ đã bị các kẻ thù của Trung Hoa cướp mất và nó phải được "đoàn tụ". Vì vậy, sau giai đoạn đầu của chương trình thống trị Thái Bình Dương, Đài Loan sẽ bị Tàu cộng cướp.
Liệu Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Đài Loan nếu Tàu cộng tấn
công? Hoặc Hoa Kỳ sẽ mặc cả để đổi Đài Loan cho
các lãnh thổ khác do Tàu cộng chiếm đoạt. Điều này
cũng tương tự như sự nhượng bộ mà phương tây đã
thực hiện với Đức quốc xã vào năm 1939 (chính sách
trấn an) và kẻ xâm lăng cho rằng sự nhượng bộ là do
đối phương hèn và yếu. Điều này khiến kẻ xâm lăng
trở nên hung hăng hơn và kết quả là chiến tranh.
Độ tin cậy của Hoa Kỳ đối với đồng minh rất quan trọng và Hoa Kỳ có trách nhiệm đạo đức để bảo vệ Đài Loan. Hơn nữa, nếu Mỹ từ bỏ Đài Loan, điều này sẽ làm gia tăng sự phổ biến vũ khí hạt nhân ở châu Á (vì các nước cảm thấy cần phải tự lo tự vệ cho họ) và làm suy yếu các liên minh của Mỹ. Về mặt chiến lược, Đài Loan rất quan trọng đối với an ninh quốc gia của Mỹ và Nhật Bản. Bởi vì nếu Đài Loan bị xâm lược bởi Tàu cộng, thì sẻ tạo sự dễ dàng cho Tàu cộng đe dọa các nước khác ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản.
Độ tin cậy của Hoa Kỳ đối với đồng minh rất quan trọng và Hoa Kỳ có trách nhiệm đạo đức để bảo vệ Đài Loan. Hơn nữa, nếu Mỹ từ bỏ Đài Loan, điều này sẽ làm gia tăng sự phổ biến vũ khí hạt nhân ở châu Á (vì các nước cảm thấy cần phải tự lo tự vệ cho họ) và làm suy yếu các liên minh của Mỹ. Về mặt chiến lược, Đài Loan rất quan trọng đối với an ninh quốc gia của Mỹ và Nhật Bản. Bởi vì nếu Đài Loan bị xâm lược bởi Tàu cộng, thì sẻ tạo sự dễ dàng cho Tàu cộng đe dọa các nước khác ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản.
Vì vậy, câu trả lời là có, nếu Đài Loan bị tấn
công, Mỹ sẽ tung ra các trận hải chiến để bảo vệ
Đài Loan, đó là Mỹ sẽ tấn công vùng lục địa Trung
Quốc. Và để đối phó với sự can thiệp của Hoa Kỳ,
Tàu cộng sẽ làm như sau:
Sử dụng tàu ngầm thông thường, chỉ một cơn mưa pháo với hỏa tiển hành trình có thể áp đảo hạm đội Hoa Kỳ và rất có thể sẽ phá hủy các hàng không mẩu hạm. Tàu cộng bổ sung 100 hỏa tiển đạn đạo mỗi năm để tấn công không quân phòng thủ ở Đài Loan. Hiện nay, Tàu cộng nhắm 2000 hỏa tiển vào Đài Loan. Chỉ trong một cơn mưa pháo, 800 hỏa tiển sẽ bay vào sân bay Đài Loan, cùng với căn cứ không quân Kadina của Mỹ ở Okinawa, khiến cho các chiến đấu cơ không thể cất cánh.
Sử dụng tàu ngầm thông thường, chỉ một cơn mưa pháo với hỏa tiển hành trình có thể áp đảo hạm đội Hoa Kỳ và rất có thể sẽ phá hủy các hàng không mẩu hạm. Tàu cộng bổ sung 100 hỏa tiển đạn đạo mỗi năm để tấn công không quân phòng thủ ở Đài Loan. Hiện nay, Tàu cộng nhắm 2000 hỏa tiển vào Đài Loan. Chỉ trong một cơn mưa pháo, 800 hỏa tiển sẽ bay vào sân bay Đài Loan, cùng với căn cứ không quân Kadina của Mỹ ở Okinawa, khiến cho các chiến đấu cơ không thể cất cánh.
Tàu cộng sẽ đặt mìn để đóng cửa 2 cảng chính của
Đài Loan. Vào mùa xuân năm 1996, Tàu cộng đã bắn hỏa
tiển đạn đạo ngang qua Đài Loan để đe dọa người
Đài Loan trong cuộc bầu cử dân chủ toàn quốc đầu
tiên của họ. Hoa Kỳ đã phái 2 hạm đội (các toán hàng
không mẩu hạm chiến đấu) vào khu vực và Tàu cộng đã
ngưng hành động đe dọa này.
Nhật Bản
Tàu cộng liên tục tấn công lãnh thổ của Nhật Bản. chúng Khóa radar vào các tàu Nhật không vũ trang và hàng ngày chúng tấn công Nhật Bản bằng các phương tiện tuyên truyền do nhà nước kiểm soát. Tàu ngầm của chúng xâm nhập nước Nhật, hỏa tiển đạn đạo Tàu cộng nhắm vào tất cả các nước trong khu vực Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản. Bộ máy tuyên truyền của Tàu cộng đã khai thác cái gọi là "thế kỷ của sự sỉ nhục quốc gia" do Nhật Bản gây ra trước đây để kích thích chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Trung Hoa nhằm khơi động hận thù và báo thù, phục vụ cho mục tiêu xâm lược của chúng.
Nhật Bản
Tàu cộng liên tục tấn công lãnh thổ của Nhật Bản. chúng Khóa radar vào các tàu Nhật không vũ trang và hàng ngày chúng tấn công Nhật Bản bằng các phương tiện tuyên truyền do nhà nước kiểm soát. Tàu ngầm của chúng xâm nhập nước Nhật, hỏa tiển đạn đạo Tàu cộng nhắm vào tất cả các nước trong khu vực Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản. Bộ máy tuyên truyền của Tàu cộng đã khai thác cái gọi là "thế kỷ của sự sỉ nhục quốc gia" do Nhật Bản gây ra trước đây để kích thích chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Trung Hoa nhằm khơi động hận thù và báo thù, phục vụ cho mục tiêu xâm lược của chúng.
Tàu cộng không phải là một chính quyền dân chủ được
bầu, chúng không có quyền hợp pháp, chúng cảm thấy tâm
lý bất an, vì vậy chúng sử dụng chủ nghĩa dân tộc
cực đoan, điên cuồng và phi lý để mặc áo khoác, mang
mặt nạ của những người theo chủ nghĩa dân tộc quốc
gia đánh lừa người dân Trung Quốc. Những cuộc biểu
tình bạo động chống Nhật Bản của người dân Trung
Quốc đòi lại các hòn đảo Senkaku / Diaoyo đã trở thành
một phần của lịch sử chính trị Trung Quốc hiện
đại.
Đáp lại, Nhật Bản đang xây dựng quân đội để chống lại mối đe doạ từ Trung Quốc. Người dân Nhật Bản trở nên thất vọng và tức giận Trung Quốc, một phản ứng tự nhiên đối lại sự hiếu chiến của Tàu cộng. Tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản nếu xảy ra sẽ là một cuộc chiến tranh hạt nhân và Mỹ sẽ bị lôi kéo vào để bảo vệ Nhật Bản. Các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc (quần đảo Ryukyu) là sự xâm lược không kém gì hơn là một sự đòi hỏi của một tên phát xít mới, đế quốc mới tại Thái Bình Dương.
Đáp lại, Nhật Bản đang xây dựng quân đội để chống lại mối đe doạ từ Trung Quốc. Người dân Nhật Bản trở nên thất vọng và tức giận Trung Quốc, một phản ứng tự nhiên đối lại sự hiếu chiến của Tàu cộng. Tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản nếu xảy ra sẽ là một cuộc chiến tranh hạt nhân và Mỹ sẽ bị lôi kéo vào để bảo vệ Nhật Bản. Các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc (quần đảo Ryukyu) là sự xâm lược không kém gì hơn là một sự đòi hỏi của một tên phát xít mới, đế quốc mới tại Thái Bình Dương.
Tại sao chuỗi đảo Ryukyu (chuỗi đá) là rất quan trọng?
Có 2 lý do:
1) 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho phép sự tiếp cận với các nguồn tài nguyên biển và đáy biển.
2) các căn cứ chiến lược, quân sự cho sự xâm lược AAAD
Chuỗi đảo Ryukyu là lãnh thổ của Nhật Bản từ đầu thế kỷ 20 (có bằng chứng), trong khi Tàu cộng sử dụng các tài liệu triều đại của nhà Minh để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, điều này sẻ không được toà án quốc tế chấp nhận vì thế giới chỉ chấp chủ quyền kể từ năm 1945.
Mỹ sẽ bảo vệ Nhật Bản vì hiệp định ký kết với Nhật Bản vào năm 1960. Nếu Tàu cộng xâm chiếm chuỗi đảo đảo Ryukyu, Hoa Kỳ sẽ làm như sau:
1) Sử dụng vũ khí thermalbarric để giết tất cả bọn xâm lược trên đảo
2) Phân ly chuổi đảo bằng phong tỏa
3) Chiến tranh hạt nhân toàn diện với Tàu cộng
Kết luận (tiếp theo)
1) 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế cho phép sự tiếp cận với các nguồn tài nguyên biển và đáy biển.
2) các căn cứ chiến lược, quân sự cho sự xâm lược AAAD
Chuỗi đảo Ryukyu là lãnh thổ của Nhật Bản từ đầu thế kỷ 20 (có bằng chứng), trong khi Tàu cộng sử dụng các tài liệu triều đại của nhà Minh để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, điều này sẻ không được toà án quốc tế chấp nhận vì thế giới chỉ chấp chủ quyền kể từ năm 1945.
Mỹ sẽ bảo vệ Nhật Bản vì hiệp định ký kết với Nhật Bản vào năm 1960. Nếu Tàu cộng xâm chiếm chuỗi đảo đảo Ryukyu, Hoa Kỳ sẽ làm như sau:
1) Sử dụng vũ khí thermalbarric để giết tất cả bọn xâm lược trên đảo
2) Phân ly chuổi đảo bằng phong tỏa
3) Chiến tranh hạt nhân toàn diện với Tàu cộng
Kết luận (tiếp theo)
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MARXIST
Sau
khi giết hơn 40 triệu người Tàu bằng chết đói với
chiến dịch "nhảy vọt vĩ đại", bọn đầu sỏ
cộng sản Trung Quốc đã tái tạo chủ nghĩa tư bản Mác
xít để chúng có thể tiếp tục gây tội ác chống lại,
không chỉ nhân dân Trung Hoa, mà còn cả thế giới.
Trong một thời gian dài, người Trung Hoa đã bị tẩy não bởi hệ tư tưởng Mác-xít, bị khủng bố, tuyên truyền và hăm dọa, họ đã trở thành những con vật để bị khai thác bởi chủ nghĩa tư bản Mác xít. Trong một nền thương mại thế giới lành mạnh, lao động rẻ được cân bằng bởi quyền của người lao động. Nếu 10 đô la mỗi đơn vị sản xuất ở Mỹ có thể làm được với 5 đô la một đơn vị để sản xuất tại Thái Lan, ví dụ như vậy, công nhân ở Thái Lan kiếm được 5 đô la mỗi đơn vị làm việc, do đó họ có khả năng mua lại. Ở Trung Quốc, những người cộng sản Trung Quốc, thông đồng với những tay buôn lao động người Đài Loan, đã tổ chức các xí nghiệp máu cấp thế giới để sản xuất hợp đồng. Con vật không có quyền người, công nhân Trung Hoa chỉ được trả10 xu cho mỗi đơn vị sản xuất từ 5 đô la mà bọn trung gian thu được của các công ty nước ngoài, do đó, bọn cộng sản Trung Quốc và những quần thần của chúng trở nên giàu có một cách bẩn thỉu nhưng người dân Trung Hoa rất nghèo và họ không có sức mua xắm.
Trong một thời gian dài, người Trung Hoa đã bị tẩy não bởi hệ tư tưởng Mác-xít, bị khủng bố, tuyên truyền và hăm dọa, họ đã trở thành những con vật để bị khai thác bởi chủ nghĩa tư bản Mác xít. Trong một nền thương mại thế giới lành mạnh, lao động rẻ được cân bằng bởi quyền của người lao động. Nếu 10 đô la mỗi đơn vị sản xuất ở Mỹ có thể làm được với 5 đô la một đơn vị để sản xuất tại Thái Lan, ví dụ như vậy, công nhân ở Thái Lan kiếm được 5 đô la mỗi đơn vị làm việc, do đó họ có khả năng mua lại. Ở Trung Quốc, những người cộng sản Trung Quốc, thông đồng với những tay buôn lao động người Đài Loan, đã tổ chức các xí nghiệp máu cấp thế giới để sản xuất hợp đồng. Con vật không có quyền người, công nhân Trung Hoa chỉ được trả10 xu cho mỗi đơn vị sản xuất từ 5 đô la mà bọn trung gian thu được của các công ty nước ngoài, do đó, bọn cộng sản Trung Quốc và những quần thần của chúng trở nên giàu có một cách bẩn thỉu nhưng người dân Trung Hoa rất nghèo và họ không có sức mua xắm.
Hệ
thống kinh tế tội ác này, còn được gọi là kinh tế
công ty hoặc thương mại tự do, hoặc chủ nghĩa toàn cầu
hóa, được các công ty tham lam và các chính trị gia tham
nhũng yêu chuộng (những người yêu chủ nghĩa toàn
cầu hóa thì được gọi là những người toàn cầu hoá)
và họ cố gắng xuất cãng tất cả các nhà máy sản
xuất qua Trung Quốc. Với một tỷ người nô lệ và một
túi tiền không giới hạn, cái gọi là "made in china"
đã làm hỏng kinh tế lành mạnh của cả thế giới và
xoá tất cả các ngành công nghiệp trong nước, tạo ra
thất nghiệp và nghèo đói ở mọi nơi. Trớ trêu thay,
tội ác được trả công rất tốt, Trung Quốc được
WTO, một công cụ của chủ nghĩa tư bản Mác xít, trao tặng
chức "quốc gia thương mại được ưa chuộng nhất
thế giới".
Bọn
toàn cầu hóa cũng cố gắng tìm kiếm lao động rẻ hơn
từ các nước thứ ba ung thối để cạnh tranh với cái động mãi dâm kinh tế Trung Quốc vĩ đại này. NAFTA của
Bill Clinton và TPP của Obama là những ví dụ của cuộc
chạy đua kinh tế toàn cầu từ Mỹ. Kể từ khi xảy ra
hệ thống toàn cầu tội ác này, bảy mươi ngàn nhà máy
sản xuất của người Mỹ, bằng tiền của Mỹ, đã biến
mất; thâm hụt thương mại lên đến 20 ngàn tỷ đô la;
ít nhất 50 triệu người Mỹ mất việc làm trong một vụ
"ăn cắp việc làm" lớn nhất trong lịch sử nhân
loại.
Tham
lam là bản chất con người của chúng ta, nhưng sử dụng
tham lam để thúc đẩy tội ác và sử dụng tội ác để
cai trị thế giới là hành động tà ác chỉ có thể do
những tên cộng sản Trung Quốc điên cuồng gây ra, và
được các bọn tư bản tham lam bản toàn cầu hỗ trợ
và được khuất phục bởi các nhà mệnh danh chủ nghĩa
xã hội cấp tiến. Bọn cộng sản Trung Quốc sử dụng chủ
nghĩa tư bản Mác xít để làm giàu và làm lan rộng nghèo đói
để các đại diện của chúng (bọn chủ nghĩa xã hội cấp tiến) có thể sử dụng đói nghèo để phổ biến chủ
nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Từ chủ nghĩa xã
hội Mac xít đến chủ nghĩa tư bản Mác xít, bọn côn đồ
Cộng sản Trung Quốc đang biến Trung Hoa thành kẻ thù
nguy hiểm nhất thế giới chống lại dân chủ, và nhớ
rằng, tội ác kinh tế không phải là tội ác duy nhất
của bọn chúng.
Trong
thực tế, cộng sản Tàu (CST) không phải là “cộng hòa” và "nhân
dân" như họ nặc danh, CST là một tổ chức tội ác
thuần túy. Chúng có thể mang nhiều mặt nạ, chúng có
thể ngụy trang dưới nhiều hình thức và chúng có thể
trở mặt tùy ý. Chúng có thể mang nhiều khuôn mặt chủ
nghĩa như chủ nghĩa quốc gia quá khích, chủ nghĩa xã hội
Mác-xit, chủ nghĩa tư bản Mác-xít ... nhưng thực sự
chúng là những kẻ theo chủ nghĩa phát xít mới, đế
quốc mới và thực dân mới, ba thứ nhập một. Trong thời
chiến tranh lạnh, bọn CST đã lợi dụng
chính sách Mỹ cần có sự thông đồng của chúng để
đánh bại chủ nghĩa cộng sản (Xô viết), để tiếp tục
tồn tại sau những tội ác tày trời. Sau khi chủ nghĩa xã hội Mác xít đã giết chết
đói hơn 40 triệu người Tàu, CST đã tìm cách duy trì
quyền lực cai trị bằng cách phản bội chủ nghĩa xã hội Mác xít , trơ trẻn trở mặt dựng đứng thây ma của chủ
nghĩa tội ác cực đoan thù địch đó là chủ nghĩa tư
bản Mác xít. CST đã tuyên truyền lường gạt dân Tàu rằng
muốn chủ nghĩa cộng sản thành công, họ phải thông qua
hệ thống tội ác đối nghịch đó là chủ nghĩa tư bản
Mác xít và đặt ra thuật ngữ "nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa" để lường gạt.
Chủ
nghĩa tư bản Mác-xít là một hệ thống kinh tế của
người giàu. Trong hệ thống tư bản Mác xít, các chính
trị gia tham nhũng chỉ phục vụ cho người giàu. CST lan
truyền chủ nghĩa tư bản Mác-xít nhằm phá
huỷ nền dân chủ trên toàn thế giới và làm cho các
quốc gia bị nhiễm chủ nghĩa tư bản Mác-xít cúi đầu
trước sự thống trị của CST vì lợi nhuận.
Đây
là định nghĩa của chủ nghĩa tư bản Mác xít do chính
bọn cộng sản viết:
“Chủ nghĩa tư bản (Mác xít) là chế độ một bọn ít người
bóc lột và thống trị đại đa số nhân dân. Song bọn
ấy là bọn tư bản, chứ không phải là bọn phong kiến.
Cách đây vài trǎm nǎm, các nước phương Tây bắt đầu
có máy móc, có công nghệ và có chế độ tư bản. Dưới
chế độ ấy, bọn tư bản chiếm các tư liệu sản xuất
(như nhà máy, nguyên liệu…) làm của riêng. Nhưng tự họ
không lao động, mà thuê công nhân sản xuất để bóc lột
công nhân. Công nhân phải bán sức lao động mới có ǎn.
Ngoài sức lao động, họ không có máy móc và nguyên liệu
gì cả. Cho nên công nhân là giai cấp vô sản. Công nhân
sản xuất các thứ của cải, song của cải ấy đều
thành của cải của nhà tư bản. Bọn tư bản chỉ trả
cho công nhân một số tiền công rất ít. Nhà tư bản
thuê công nhân mục đích là cốt kiếm lãi. Công nhân vì
không có tư liệu sản xuất, mà phải chịu bọn tư bản
bóc lột. Vì vậy, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản
là: 1- Máy móc là chủ chốt của tư liệu sản xuất.
Dùng máy móc phải tập trung đông người. Do đó, để
sản xuất, thì sức lao động hoá ra tập thể. 2- Nhà tư
bản chiếm hết mọi tư liệu sản xuất, họ dùng chế
độ tiền công để bóc lột công nhân. Về mặt sản
xuất, so với chế độ phong kiến thì chế độ tư bản
là một tiến bộ to. Phong kiến, chỉ nhờ sức người và
sức súc vật mà sản xuất. Tư bản thì dùng máy móc mà
sản xuất. Dùng máy móc tái sản xuất gấp 10, gấp 100,
mà người ta lại ít khó nhọc hơn. Tư bản sản xuất
rất nhiều, song không phải để cho mọi người được
hưởng. Vì các tư liệu sản xuất đã bị nhà tư bản
chiếm làm của riêng. Đó là một tình trạng rất không
hợp lý. Tình trạng đó sinh ra nhiều khó khǎn mà nhà tư
bản không thể giải quyết: nhà tư bản sản xuất là
cốt để bán. Thí dụ, họ sản xuất hàng vạn đôi
giầy, không phải để họ dùng, mà để bán. Trong xã hội
tư bản, đại đa số nhân dân đã thành nghèo khó, thì
bán cho ai ? Vì vậy, mà thường có khủng hoảng kinh tế,
vì sản xuất quá nhiều. Lao động đã tập thể, thì các
tư liệu sản xuất và những thứ sản xuất ra, phải là
của chung mới đúng. Nhà tư bản chẳng những bóc lột
công nhân trong nước họ, mà còn xâm lược và bóc lột
các nước khác. Do đó, chủ nghĩa tư bản trở nên chủ
nghĩa đế quốc” (trích sách giáo khoa của việt
cộng).
Và đây là tiến trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản đỏ (tư bản Mác xít).
Sau
năm 1945 Mỹ thành lập một liên hiệp quốc lành mạnh
dựa trên tự do và dân chủ toàn cầu. Bởi gần như lúc
đó tất cả các hệ thống tội ác toàn cầu đã bị phá
hủy, ngoại trừ một hệ thống chủ nghĩa tội ác mới:
đó là chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1972, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã thăm các tĩnh Trung Hoa và ký một thông cáo tại Thượng Hải như là một phần của chương trình bắt tay với Tàu cộng.
Vào năm 1973 liên hiệp quốc đá Trung Hoa Cộng Hòa ROC ra và thay thế ROC bằng CST.
Năm 1972, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã thăm các tĩnh Trung Hoa và ký một thông cáo tại Thượng Hải như là một phần của chương trình bắt tay với Tàu cộng.
Vào năm 1973 liên hiệp quốc đá Trung Hoa Cộng Hòa ROC ra và thay thế ROC bằng CST.
Năm
1979, Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter thiết lập quan hệ
ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc và chấm dứt mối
quan hệ bình thường với Đài Loan. Tuy nhiên, quốc hội
Hoa Kỳ đã ký Đạo luật Quan hệ Đài Loan để thiết
lập lại quan hệ quốc phòng và thương mại với Đài
Loan.
Năm 1989, dưới thời Tổng thống George Bush, quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc đóng băng vì vụ thảm sát Thiên An Môn. Nhưng đến năm 2000 thì TT Bill Clinton ký Đạo luật quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc năm 2000 mở đường tái lập mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc toàn diện và cho chúng gia nhập WTO.
Năm 1989, dưới thời Tổng thống George Bush, quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc đóng băng vì vụ thảm sát Thiên An Môn. Nhưng đến năm 2000 thì TT Bill Clinton ký Đạo luật quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc năm 2000 mở đường tái lập mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc toàn diện và cho chúng gia nhập WTO.
Năm
2001, Trung Quốc gia nhập WTO. Ngay lập tức Trung Quốc tràn
ngập Mỹ với hàng xuất khẩu có sự hổ trợ bất hợp
pháp của chính phủ độc tài đãng trị CST, đã làm 57
nghìn nhà máy Mỹ biến mất và hơn 25 triệu người Mỹ
bị mất việc làm. CST đã làm tổn thương cả người
dân Trung Quốc và Hoa Kỳ, và kinh tế toàn cầu, Liên Hiệp
Quốc đã bị xáo trộn khi họ đuổi khỏi Taiwan và thừa
nhận Trung Quốc là thành viên chinh yeu của lien hiep Quốc.
Nền kinh tế toàn cầu đã bị bệnh nặng sau khi WTO cho
phép Trung Quốc gia nhập. Nếu chúng ta không ngăn chặn
chúng bây giờ thì sẽ quá muộn.
Bây
giờ hầu như mọi thứ đều được sản xuất tại Trung
Quốc. Không chỉ những sản phẩm rẻ tiền và các sản
phẩm bị đánh cắp là tội ác, mà là những sản phẩm
công nghệ cao đắt tiền mớt thật sự là tội ác kinh
tế nguy hiểm. Bởi vì chúng không thật sự được sản
xuất ở Trung Quốc, mà là chúng được gia công do nô lệ
ở Trung Quốc bằng tiền của các công ty toàn cầu. Trong
khi đó, các nhà máy và các thành phố ở Mỹ bị bỏ rơi
và công nhân bị sa thải, hầu như không ai có thể tìm
được một công việc thực sự.
Nền
kinh tế Trung Quốc dựa trên tội ác gian lận và chống
lại công nhân. Trớ trêu thay, các công nhân Mỹ được
yêu cầu hỗ trợ hệ thống tự sát này để chuyển giao
công nghệ và thương mại của họ cho Trung Quốc. Dân
chủ của Hoa Kỳ đã bị cướp bởi các tập đoàn đại
công ty toàn cầu (global corporations), hầu hết các công ty
nhỏ đều phải dời nhà máy sang Trung Quốc vì họ không
có sự lựa chọn. Các tập đoàn đại công ty toàn cầu
ở Hoa Kỳ vận động quốc hội mỹ vận chuyển nền
kinh tế Hoa Kỳ sang Trung Quốc bởi vì nó có lợi cho họ
hơn.
Chính phủ Mỹ bị đổ lỗi cho việc không quan tâm đếm xỉa gì cho các công nhân công nghiệp Mỹ. WTO chống Mỹ, Bill Clinton và quốc hội của đãng cộng hòa đã bán nền kinh tế Hoa Kỳ cho CST vào năm 2001. Các công ty lớn đã hợp tác với họ để chuyển các công việc và nhà máy của Mỹ sang Trung Quốc.
Dưới
đây là những lý do Bill Clinton đã lường gạt người Mỹ
ủng hộ chủ nghĩa toàn cầu của Trung Quốc:
"... giúp đỡ cho hạnh phúc và do đó tự do của người dân Tàu"! nhưng còn hạnh phúc của người Mỹ thì sao? Ngoài ra, không phải là người Trung Quốc được hưỡng lợi và được tự do nhưng chỉ có CST và tay sai của chúng được mà thôi.
"... tin tưởng vào hòa bình và an ninh ở Châu Á ..."! không có gì là xạo hơn câu này, hãy nhìn vào hành động xâm lược trắng trợn và sự trang bị vủ khí tận răng của CST và sự bất ổn an ninh khu vực nam và đông châu Á ngày nay thì sẻ rỏ.
"... chúng tôi chỉ giao hàng công nghệ chứ không phải công việc cho Trung Quốc"! một sự láo toét lớn, làm thế nào có thể chỉ gửi công nghệ đến Tàu cộng mà không xuất cãng công việc?
Chính sách “giao tế với tàu cộng” của Nixon không phải là để theo chủ nghĩa tư bản Mác xít, điều CST làm là hoàn toàn ngược lại với những gì Clinton đã lường gạt người Mỹ: Trung Quốc không mua gì nhiều từ Mỹ và Trung Quốc không bao giờ có thể được dân chủ hóa bằng tiền, Chủ nghĩa tư bản Mác xít chỉ làm cho CST giàu hơn mạnh hơn côn đồ hơn phản dân chủ hơn và hiếu chiến hơn.
"... giúp đỡ cho hạnh phúc và do đó tự do của người dân Tàu"! nhưng còn hạnh phúc của người Mỹ thì sao? Ngoài ra, không phải là người Trung Quốc được hưỡng lợi và được tự do nhưng chỉ có CST và tay sai của chúng được mà thôi.
"... tin tưởng vào hòa bình và an ninh ở Châu Á ..."! không có gì là xạo hơn câu này, hãy nhìn vào hành động xâm lược trắng trợn và sự trang bị vủ khí tận răng của CST và sự bất ổn an ninh khu vực nam và đông châu Á ngày nay thì sẻ rỏ.
"... chúng tôi chỉ giao hàng công nghệ chứ không phải công việc cho Trung Quốc"! một sự láo toét lớn, làm thế nào có thể chỉ gửi công nghệ đến Tàu cộng mà không xuất cãng công việc?
Chính sách “giao tế với tàu cộng” của Nixon không phải là để theo chủ nghĩa tư bản Mác xít, điều CST làm là hoàn toàn ngược lại với những gì Clinton đã lường gạt người Mỹ: Trung Quốc không mua gì nhiều từ Mỹ và Trung Quốc không bao giờ có thể được dân chủ hóa bằng tiền, Chủ nghĩa tư bản Mác xít chỉ làm cho CST giàu hơn mạnh hơn côn đồ hơn phản dân chủ hơn và hiếu chiến hơn.
Đây
là những tội phạm chính của chủ nghĩa tư bản Marxist:
Gây ô nhiễm cho lợi nhuận
Nô lệ
Thao túng tiền tệ
Đánh
cắp tài sản trí tuệ
Trợ cấp xuất khẩu bất hợp pháp
Trợ cấp xuất khẩu bất hợp pháp
Ăn
cắp kỹ nghệ và hãng xưỡng
Gây ô nhiễm cho lợi nhuận
CST sử dụng ô nhiễm để kiếm lợi (không tiêu tiền để chống ô nhiễm). Trung Quốc là nước bị ô nhiễm nhất trên trái đất, ít hơn 1% đô thị Trung Quốc đạt tiêu chuẩn chất lượng không khí. Hoa Kỳ có 100 năm tiến hành chống ô nhiễm, bằng cách dọn hãng sang Trung Quốc, các doanh nghiệp tham lam có thể bỏ qua tất cả thành quả đó. Trung Quốc là nước có môi trường bị suy thoái nhất trên thế giới với nhiều làng ung thư.
Trung Quốc làm ô nhiễm mọi thứ: đất, không khí, nước, ô nhiễm kim loại nặng ... ví dụ, một công ty như Baosteel được phép đổ chất hóa học vào dòng sông. Kiểm soát ô nhiễm có chi phí: 40 $ / tấn thép. Đây là 5% chi phí sản xuất. Điều này làm cho CST có lợi thế vì tiết kiệm được 5% là đủ để lau sạch ngành công nghiệp thép của Mỹ.
Gây ô nhiễm cho lợi nhuận
CST sử dụng ô nhiễm để kiếm lợi (không tiêu tiền để chống ô nhiễm). Trung Quốc là nước bị ô nhiễm nhất trên trái đất, ít hơn 1% đô thị Trung Quốc đạt tiêu chuẩn chất lượng không khí. Hoa Kỳ có 100 năm tiến hành chống ô nhiễm, bằng cách dọn hãng sang Trung Quốc, các doanh nghiệp tham lam có thể bỏ qua tất cả thành quả đó. Trung Quốc là nước có môi trường bị suy thoái nhất trên thế giới với nhiều làng ung thư.
Trung Quốc làm ô nhiễm mọi thứ: đất, không khí, nước, ô nhiễm kim loại nặng ... ví dụ, một công ty như Baosteel được phép đổ chất hóa học vào dòng sông. Kiểm soát ô nhiễm có chi phí: 40 $ / tấn thép. Đây là 5% chi phí sản xuất. Điều này làm cho CST có lợi thế vì tiết kiệm được 5% là đủ để lau sạch ngành công nghiệp thép của Mỹ.
Ô
nhiễm carbon ở Trung Quốc gây nguy hiểm cho cả thế giới.
Phát thải carbon ở Trung Quốc với mức 1000 USD / gmc gấp
7 lần lượng phát thải cácbon của Hoa Kỳ và các thành
phố ở Mỹ bị ô nhiễm bởi lượng khí thải carbon từ
Trung Quốc.
Nô lệ
Không ai có thể cạnh tranh với chế độ nô lệ. Ở Trung Quốc, không ai được phép bảo vệ người lao động. CST sẽ đàn áp tất cả các hình thức công đoàn và bảo vệ người lao động vì bóc lột lao động là phương tiện làm giàu chính của chúng. Theo báo cáo sai lệch của chúng, Trung Quốc mất 180 nghìn công nhân về tai nạn hàng năm (tất nhiên số thực phải cao hơn nhiều). Ở Trung Quốc, luật lao động trẻ em, luật lao động trong nhà tù, luật sức khoẻ và an toàn ... không có thực và bị lạm dụng hoàn toàn. Trại lao động cưỡng bức mọc lên trên toàn Trung Quốc và tù nhân làm việc mà không được trả tiền.
Nô lệ
Không ai có thể cạnh tranh với chế độ nô lệ. Ở Trung Quốc, không ai được phép bảo vệ người lao động. CST sẽ đàn áp tất cả các hình thức công đoàn và bảo vệ người lao động vì bóc lột lao động là phương tiện làm giàu chính của chúng. Theo báo cáo sai lệch của chúng, Trung Quốc mất 180 nghìn công nhân về tai nạn hàng năm (tất nhiên số thực phải cao hơn nhiều). Ở Trung Quốc, luật lao động trẻ em, luật lao động trong nhà tù, luật sức khoẻ và an toàn ... không có thực và bị lạm dụng hoàn toàn. Trại lao động cưỡng bức mọc lên trên toàn Trung Quốc và tù nhân làm việc mà không được trả tiền.
Thao
tác tiền tệ
Thao túng đồng tiền dưới cơ sở là tương đương với đánh thuế hàng xuất khẩu của Mỹ 20%. Ý tưởng về thao túng tiền tệ thì rất đơn giản: thặng dư thương mại dẫn đến đồng tiền mạnh, đồng tiền mạnh dẫn đến chi phí cao từ nước thặng dư thương mại, dẩn đế giá trị hàng hóa xuất cãng đắt hơn, giá trị hàng hóa cao hơn + giá trị tiền tệ nhiều hơn dẫn đến bán ít hơn và mua nhiều hơn từ nước dư thừa.
Thao túng đồng tiền dưới cơ sở là tương đương với đánh thuế hàng xuất khẩu của Mỹ 20%. Ý tưởng về thao túng tiền tệ thì rất đơn giản: thặng dư thương mại dẫn đến đồng tiền mạnh, đồng tiền mạnh dẫn đến chi phí cao từ nước thặng dư thương mại, dẩn đế giá trị hàng hóa xuất cãng đắt hơn, giá trị hàng hóa cao hơn + giá trị tiền tệ nhiều hơn dẫn đến bán ít hơn và mua nhiều hơn từ nước dư thừa.
Điều ngược lại cũng đúng và dẫn đến việc bán nhiều hơn và mua ít hơn từ quốc gia thâm hụt và điều này là sự tự khắc phục sự mất cân bằng thương mại của thị trường tự nhiên dựa trên chức năng đơn giản của cung và cầu.
Thao
túng tiền tệ có nghĩa là làm cho đồng tiền của quốc
gia nhập siêu cao lên để ngăn chặn hiệu quả tự sửa
chữa của thị trường tự nhiên. Bằng cách này, CST có
thể giữ được nhu cầu và giá đô la tăng lên, do đó
hàng hoá từ Mỹ vẫn còn giá cao hơn và hàng hoá từ
Trung Quốc vẫn còn chi phí thấp và thặng dư thương mại
tiếp tục. CST sử dụng tiền thặng dư thương mại để
mua tiền của Mỹ (đô la) và nâng giá trị đồng đô la,
do đó thao túng tiền tệ.
Các nhà đầu tư muốn đồng tiền của họ mạnh trong khi các nhà sản xuất muốn đồng tiền của họ yếu. Mặc dù nhiều quốc gia sử dụng thao túng tiền tệ phần nào, nhưng CST là một tay thao túng nhất nhờ vào tình trạng quyền lực tuyệt đối của họ. CST gây tốn kém và thiệt hại thương mại cho Hoa Kỳ nhiều nhất bởi vì thao túng tiền tệ gian manh, Trung Quốc là một cơ sở thao tác tiền tệ bất chính, không phải là một cơ sở kinh tế dựa vào biến động thị trường tự nhiên.
Các nhà đầu tư muốn đồng tiền của họ mạnh trong khi các nhà sản xuất muốn đồng tiền của họ yếu. Mặc dù nhiều quốc gia sử dụng thao túng tiền tệ phần nào, nhưng CST là một tay thao túng nhất nhờ vào tình trạng quyền lực tuyệt đối của họ. CST gây tốn kém và thiệt hại thương mại cho Hoa Kỳ nhiều nhất bởi vì thao túng tiền tệ gian manh, Trung Quốc là một cơ sở thao tác tiền tệ bất chính, không phải là một cơ sở kinh tế dựa vào biến động thị trường tự nhiên.
Ăn
cắp tài sản trí tuệ
CST ăn cắp bản quyền gần như tất cả các sản phẩm trí tuệ của Mỹ. Không chỉ CST đã đánh cắp các sản phẩm trí tuệ của Mỹ để làm bản sao của họ, mà còn cướp luôn công ty của họ. Chẳng hạn, chúng cướp công ty Shredder, công ty này đã bị chúng đóng cửa và sau đó bị chúng chiếm quyền và cướp luôn vào năm 2011.
CST đã đánh cắp tất cả mọi thứ sản xuất cơ sở công nghiệp và sở hữu trí tuệ, bao gồm các sản phẩm năng lượng "xanh" như pin mặt trời và các tế bào năng lượng gió, vốn được chính quyền Obama hỗ trợ để tạo công ăn việc làm cho người Mỹ. Và CST đánh cắp không chỉ các công việc mà cả công ty và công nghệ nữa. CST đã đánh cắp kỷ nghệ các công ty nào đã xuất khẩu kỹ nghệ của họ qua nước tàu. Boeing và Air Bus đã bị đẩy ra sau khi CST đánh cắp công nghệ của họ. Bây giờ CST đã tạo ra các công ty máy bay Trung Quốc để chiếm đoạt thị trường của họ trên toàn thế giới.
Sản xuất là nền tảng của nền kinh tế, khi sản xuất di chuyển đi thì nhiều lãnh vực khác cũng di chuyển theo. Ví dụ như, kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển cũng phải di chuyển theo. Bằng cách chuyển kỹ thuật sang Trung Quốc, các công ty tạo ra các cơ hội dễ dàng cho CST để ăn cắp công nghệ cùng với việc làm của mỹ.
CST ăn cắp bản quyền gần như tất cả các sản phẩm trí tuệ của Mỹ. Không chỉ CST đã đánh cắp các sản phẩm trí tuệ của Mỹ để làm bản sao của họ, mà còn cướp luôn công ty của họ. Chẳng hạn, chúng cướp công ty Shredder, công ty này đã bị chúng đóng cửa và sau đó bị chúng chiếm quyền và cướp luôn vào năm 2011.
CST đã đánh cắp tất cả mọi thứ sản xuất cơ sở công nghiệp và sở hữu trí tuệ, bao gồm các sản phẩm năng lượng "xanh" như pin mặt trời và các tế bào năng lượng gió, vốn được chính quyền Obama hỗ trợ để tạo công ăn việc làm cho người Mỹ. Và CST đánh cắp không chỉ các công việc mà cả công ty và công nghệ nữa. CST đã đánh cắp kỷ nghệ các công ty nào đã xuất khẩu kỹ nghệ của họ qua nước tàu. Boeing và Air Bus đã bị đẩy ra sau khi CST đánh cắp công nghệ của họ. Bây giờ CST đã tạo ra các công ty máy bay Trung Quốc để chiếm đoạt thị trường của họ trên toàn thế giới.
Sản xuất là nền tảng của nền kinh tế, khi sản xuất di chuyển đi thì nhiều lãnh vực khác cũng di chuyển theo. Ví dụ như, kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển cũng phải di chuyển theo. Bằng cách chuyển kỹ thuật sang Trung Quốc, các công ty tạo ra các cơ hội dễ dàng cho CST để ăn cắp công nghệ cùng với việc làm của mỹ.
Trợ
cấp xuất khẩu bất hợp pháp
CST hỗ trợ các công ty tư nhân Trung Quốc một cách bất hợp pháp để đánh cắp thị trường. Ví dụ, trong ngành thép, Trung Quốc chiếm 45% sản lượng cung cấp trên toàn thế giới, với chi phí sản xuất cao nhưng họ có thể bán thép với giá thấp nhất và tăng trưởng 8% mỗi năm. Tất cả những điều này được thực hiện bởi sự hỗ trợ bất hợp pháp của chính phủ CST.
CST hỗ trợ các công ty tư nhân Trung Quốc một cách bất hợp pháp để đánh cắp thị trường. Ví dụ, trong ngành thép, Trung Quốc chiếm 45% sản lượng cung cấp trên toàn thế giới, với chi phí sản xuất cao nhưng họ có thể bán thép với giá thấp nhất và tăng trưởng 8% mỗi năm. Tất cả những điều này được thực hiện bởi sự hỗ trợ bất hợp pháp của chính phủ CST.
Trung
Quốc Dân chủ?
Trung Quốc ngày nay ít tự do hơn trước khi gia nhập WTO. Đây là bảng điểm về chống dân chủ của CST:
Trung Quốc ngày nay ít tự do hơn trước khi gia nhập WTO. Đây là bảng điểm về chống dân chủ của CST:
Lạm dụng và vi phạm nhân quyền
Áp bức Tây Tạng
Tra tấn Pháp Luân Công
Đàn áp tôn giáo và dân chủ
Ức chế Internet: CST có hơn 50 nghìn dịch vụ cảnh sát mạng do chính các công ty Hoa Kỳ giúp đỡ để đàn áp người Tàu. Họ biện minh cho sự cấu kết với áp bức bằng cách nói rằng "chúng ta phải tuân theo luật Trung Quốc" nhưng luật của Trung Quốc là gì? Luật cộng sản có đúng luật không? Hay là nghị định? Và vì cái gì? Ví dụ, Yahoo đã chuyển giao tất cả thông tin của một nhà bình luận chính trị, Shr Tao, điều này dẫn đến việc ông bị bắt và bị 10 năm tù lao động.
Bán các cơ phận của con người, giết chết các tù nhân để lấy các cơ phận đem bán bất cứ khi nào họ cần chúng. Mỹ càng luồng cuối chúng nhiều hơn, cúi đầu với chế độ độc tài nhiều hơn, chúng càng tàn nhẫn hơn.
Sản
phẩm nguy hiểm
Đây là bản liệt kê vài sản phẩm độc hại nguy hiểm của tàu cộng
Ống pipe có Arsonic và thủy ngân
Bánh xe không an toàn
Nôi trẻ con làm nghẹt thở
Thực phẩm thú nuôi bị ô nhiễm
Độc tố trong chất chống đông
Các trang trại nuôi cá bị ô nhiễm bởi hooc môn xấu
Cơ quan USDR của Mỹ chỉ có thể kiểm tra 1% cá nhập khẩu từ Trung Quốc, 65% số này bị từ chối nhưng họ vẩn có thể gửi chúng vào các thành phố và tiểu bang khác.
Kết luận: Tất cả các mối nguy hiểm này được thực hiện theo công thức:
Các tập đoàn công ty lớn tham lam + Các chính trị gia tham nhũng + Cộng sản Trung Quốc = Tư bản Marxist tội ác.
Đây là bản liệt kê vài sản phẩm độc hại nguy hiểm của tàu cộng
Ống pipe có Arsonic và thủy ngân
Bánh xe không an toàn
Nôi trẻ con làm nghẹt thở
Thực phẩm thú nuôi bị ô nhiễm
Độc tố trong chất chống đông
Các trang trại nuôi cá bị ô nhiễm bởi hooc môn xấu
Cơ quan USDR của Mỹ chỉ có thể kiểm tra 1% cá nhập khẩu từ Trung Quốc, 65% số này bị từ chối nhưng họ vẩn có thể gửi chúng vào các thành phố và tiểu bang khác.
Kết luận: Tất cả các mối nguy hiểm này được thực hiện theo công thức:
Các tập đoàn công ty lớn tham lam + Các chính trị gia tham nhũng + Cộng sản Trung Quốc = Tư bản Marxist tội ác.
Hệ thống kinh tế Hoa Kỳ (hệ thống tư bản
lành mạnh) hoàn toàn khác với kinh tế Trung Quốc (hệ
thống tư bản chủ nghĩa Mác xit tội ác). Do đó họ không thể
giao dịch tự do và công bằng với nhau được.
Sunday, May 8, 2016
Chính Nghĩa Quốc Gia
CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA
Quốc gia là lãnh thổ trong đó ngườI dân có chủ quyền. Quốc, hay
là nước (ý nói lãnh thổ), là đơn vị địa lý chính trị của thế giớI; giống như
gia, hay là nhà (ý nói ngườI dân), là đơn vị của xã hộI (trong một nước). Quốc
gia được thành lập từ những bộ lạc, phát triền văn minh và văn hóa, thu phục
được các bộ lạc tương tự chũng tộc bằng sự đồng thuận, tự quyết và cộng hòa.
Trong thờI quân chủ đế chế, chủ quyền quốc gia được thiết lập
bằng sức mạnh quân sự mạnh được yếu thua. Triều đạI được dựng lên bằng chiến
tranh và duy trì bằng đạo đức. Trong thờI gian này, vì nước mạnh thôn tính nước
yếu bằng sức mạnh quân sự cho nên địa lý chính trị của thế giớI thay đổI mau
chóng. Cho đến khi lãnh thổ lãnh hảI quốc gia được quy định bằng luật pháp quốc
tế và chính trị dân chủ thì sự thay đổI mau chóng này không còn nửa.
Chính nghĩa quốc gia là quyền quốc gia (nation rights) và sự
phát triển lòng yêu nước vớI mục đích bảo vệ lãnh thổ quốc gia và quyền lợI của
ngườI dân; ngườI theo chính nghĩa quốc gia thì được gọI là “ngườI quốc gia”. Vì
quốc gia bao gồm lãnh thổ, lãnh hảI và người dân, nên chính nghĩa quốc gia là
vắn tắt của chính nghĩa quốc gia dân tộc, hay là “chính nghĩa dân tộc”. Nhưng
vì nhân loạI có nhiều chũng, chũng có nhiều tộc và tộc có nhiều họ; và vì ngườI
dân trong một nước có thể đa chũng (như Hoa Kỳ) hay đa tộc (như Trung Hoa); nên
“chính nghĩa dân tộc” được gọi chính thức và đầy đủ là chính nghĩa quốc gia.
Cần phải phân biệt chính nghĩa quốc gia với chủ nghĩa quốc gia
quá khích, hay còn được gọI là chũ nghĩa dân tộc cực đoan (fascm, racism). Chủ nghĩa quốc gia nếu có , là sự lợI dụng
chính nghĩa quốc gia để xâm lược hay thống trị. Chủ nghĩa quốc gia quá khích có
3 đặc tính: một là chũng tộc xiêu đẵng, hai là sự sợ hãi và hận thù giã tạo, và
ba là lòng yêu nước tuyệt đốI và mù quáng. Trong lịch sử nhân loạI, chũ nghĩa
quốc gia quá khích điễn hình là ba nước trong khốI “phe trục” (Đức, Ý và Nhật)
trong thờI chiến tranh thế giớI thứ hai. Một vấn đề cần lưu ý, Sự bành trướng
quốc gia bằng sức mạnh quân sự trong thờI đạI quân chủ đế quốc, đa số chỉ dựa
vào quy luật mạnh được yếu thua mà thôi và không nhất thiết là do chủ nghĩa
quốc gia quá khích.
Chính nghĩa quốc gia là quan trọng và cần thiết để đốI phó vớI
ngoạI bang xâm lược và các chủ nghĩa quốc tế tội ác. Chính nghĩa quốc gia không
những chỉ bảo vệ lãnh thổ và lãnh hảI mà còn bảo vệ quyền lợI kinh tế và văn
hóa của ngườI dân chống lạI xâm lược kinh tế và sự hũy diệt văn hóa dân tộc của
chủ nghĩa quốc tế hay của ngoại bang xâm lược thông qua bè lũ tay sai. Tuy
Nhiên, chính nghĩa quốc gia không chống lại độc tài quốc gia. NgườI dân trong
một nước thiếu dân chủ tự do có chiến tranh nội bộ chống độc tài nội bộ thì
không cần và không nên theo chủ nghĩa gì cả. Trong một nước độc tài nộI bộ (như
quân phiệt Miến Điện), ngườI dân đấu tranh cho dân chủ tự do không vì chủ nghĩa
( như chủ nghĩa xã hộI, chủ nghĩa tư bản hay chính nghĩa quốc gia) vì quân
phiệt Miến Điện không phảI là tay sai ngoại bang hay chủ nghĩa quốc tế. Nếu sự
thống trị là của bè lủ tay sai ngoạI bang hay chủ nghĩa quốc tế thì cuộc đấu
tranh, trước hết, phảI là cuộc đấu tranh cho quốc gia của chính nghĩa quốc gia.
“Đất nước còn trong tay ngườI quốc gia là còn tất cả, đất nước
rơi vào tay cộng sản (tay sai quốc tế cộng sản) là mất tất cả…” lờI của tổng
thống VNCH, Nguyến văn Thiệu, đã tóm tắt ý chính của sự quan trọng và cần thiết
của chũ nghĩa quốc gia. Quốc gia không còn thì dân chủ tự do để làm gì và để
cho ai? Trong trường hợp của nước Việt Nam ngày hôm nay dướI sự thống trị của
bè lủ việt cộng, đang trụ hình làm tay sai tàu cộng vốn là tàn dư của chủ nghĩa
cộng sản quốc tế, thì dân chủ tự do ngay cả có thật cũng không còn ý nghĩa khi
trên 20 phần trăm dân số Việt Nam là ngoạI bang giàu có. Ý chính là đất nước
phảI thuộc về ngườI quốc gia thì lãnh thổ lãnh hãi và quyền lợi của người dân
mới được bảo vệ và dân chủ tự do mớI có ý nghĩa.
Cộng sản là một tổ chức tộI ác kinh tế chính trị xã hộI quốc tế,
một hệ thống đế quốc mạnh được yếu thua, vô pháp vô nhân, điên cuồng chủ nghĩa.
Chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa quốc tế hoang tưởng và độc ác, thi hành bởI
một lủ vô sản côn đồ quốc tế chống lạI chính nghĩa quốc gia và dân chủ tự do.
Mục đích của cộng sản là tiêu diệt chính nghĩa quốc gia và dân chủ tự do để
phục vụ chũ nghĩa cộng sản quốc tế; vì bản chất chính của cộng sản là chống lạI
quốc gia, là phản quốc, cho nên chủ nghĩa cộng sản là kẻ thù của chính nghĩa
quốc gia.
Việt cộng là tay sai của cộng sản quốc tế, trước đây là Liên Sô,
sau này là Tàu cộng. Việt cộng thi hành mệnh lệnh của quốc tế cộng sản cướp
nước, tiêu diệt chính nghĩa quốc gia và quốc tế hóa Việt Nam. Việt cộng cướp
nước Việt Nam bằng chiêu bài chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chúng lường gạt dân
Việt Nam vào 4 cuộc chiến tranh quốc tế (Pháp, Mỹ, Miên và Tàu) theo chỉ thị bành
trướng lãnh thổ của quốc tế cộng sản bằng vủ khí cung cấp bởI quốc tế cộng sản.
Việt cộng ám sát thủ tiêu những lãnh tụ quốc gia chân chính như ông Ngô Đình
Khôi, ông Phạm Quỳnh, đức Huỳnh Phú Sổ, giáo sư Nguyễn văn Bông… và hàng ngàn
cán bộ nhân viên chính phủ quốc gia để gây sợ hãi hận thù và rốI loạn, chúng
tuyên truyền đánh phá bôi nhọ chụp mũ vu khống chính phủ quốc gia để tạo điều
kiện cho chúng dể dàng cướp nước VIệt Nam.
Việt cộng tiêu diệt chính nghĩa quốc gia chân chính và quốc tế
hóa nước Việt Nam bằng cách tiêu diệt văn hóa, kinh tế và lich sử quốc gia và
thay thế bằng sản phẩm quốc tế ngoạI bang. VIệt cộng tiêu diệt văn hóa dân tộc
bằng cách bôi nhọ chụp mũ vu khống văn hóa VIệt Nam là đồI trụy và phản động,
chúng đốt sách, giết thầy và nhồI sọ học trò; sau đó chúng vật chất hóa văn hóa
Việt Nam bằng giáo dục tuyên truyền nhồI sọ và chúng quốc tế hóa văn hóa Việt
Nam bằng văn hóa ngoạI lai, lai căng chúng vác về từ bên tàu. Việt cộng tiêu
diệt kinh tế quốc gia trước bằng chủ nghĩa xá hộI, sau bằng chủ nghĩa tư bản,
chúng đuổI dân Việt Nam đi và rước ngoạI bang vào như tàu cộng, tư bản quốc tế
và “việt kiều đô la” để cùng chúng vơ vét tài nguyên, bóc lột ngườI dân, thống
trị và quốc tế hóa kinh tế Việt Nam.
Sử gia chân chính không lọc lựa những cái đúng mà chỉ ghi chép
trung thực những gì xảy ra. Lịch sử quốc gia Việt Nam khởI đầu luôn luôn có câu
chuyện truyền thuyết con rồng cháu tiên. Truyền thuyết không phảI là sự thật
nhưng nó có giá trị lịch sử và tinh thần mà sử gia quốc gia có bổn phận phảI
ghi chép lại. Việt cộng thóa mạ, bôi bẩn, bóp méo và xóa bỏ lịch sử quốc gia và
tinh thần dân tộc con rồng cháu tiên của ngườI Việt Nam; thay vào đó chúng thêu
dệt huyền thoạI tôn thờ lãnh tụ đãng việt cộng và lãnh tụ cộng sản quốc tế;
chúng nhồI sọ dân Việt Nam rằng lịch sử VIệt Nam khởI đầu từ phong trào cách
mạng và giảI phóng của cộng sản quốc tế, còn trước đó là phong kiến tộI ác. Nói
tóm lạI, việt cộng tìm mọI cách tiêu diệt lịch sử quốc gia để quốc tế hóa lịch
sử Việt Nam.
TộI ác của đãng cộng sản có hai phần rỏ rệt: một là phản quốc và
hai là phản dân chủ. Yếu tố phản quốc căn bản của việt cộng là tiêu diệt quốc
gia phục vụ quốc tế, hay nói tắt là quốc tế hóa. Trong khi cách mạng dân chủ
đấu tranh chống chính trị độc tài và các chủ nghĩa kinh tế theo chức năng thì
chính nghĩa quốc gia chống quốc tế hóa theo bản năng, giống như chủ nghĩa gia
đình chống xã hộI hóa. Cộng sản đã tìm mọI cách để khoát chiếc áo quốc gia dân
tộc giã tạo để ngườI dân không thể phân biệt được đâu là quốc tế đâu là quốc
gia, và luận điệu “chống tất cả độc tài” hay là “bọn này độc tài hơn cộng sản”
là luận điệu hù dọa, bôi nhọ lẩn lộn kiểu lộng chân thành giả, lộng giả thành
chân làm lợI cho cộng sản. Xin phân biệt rằng độc tài quốc gia khác với độc tài
quốc tế (tay sai đế quốc) và chính nghĩa quốc gia không chống độc tài quốc gia.
Chống cộng sản là chống quốc tế hóa là bảo vệ quốc gia, có quốc gia thì mớI có
dân chủ, cho nên “quốc gia trước dân chủ sau”, đó là nguyên tắc căn bản của
chính nghĩa quốc gia.
Tinh thần và chính nghĩa quốc gia VIệt Nam đã có từ lâu bất chấp
thể chế chính trị là gì. NgườI Việt quốc gia chống ngoạI bang xâm lược kể từ
thờI Hồng Bàng lập quốc. TrảI qua bốn ngàn năm lịch sử, kẻ thù xâm lược Việt
Nam đã nhiều lần bị đánh bạI qua những giai đoạn lịch sử dân tộc. Nhưng đến
ngày hôm nay thì Việt Nam đang trong một giai đoạn đen tốI nhất của lịch sử vì
đế quốc cộng sản không đơn giản chỉ là đế quốc tàu . ĐạI họa mất nước của dân
tộc đang xảy ra vì lũ bán nước - hiện thân tay sai của đế quốc cộng sản quốc tế
vô cùng gian manh và độc ác - đang thống trị Việt Nam.
Theo dòng lịch sử, Việt Nam có 3 kẻ thù đó là đế quốc tàu, thực
dân Pháp và VIệt cộng - tay sai quốc tế cộng sản hiện nay đang thống trị Việt
Nam. Trong giai đoạn chống thực dân, một điều quan trọng cần nói là chỉ có
ngườI Việt quốc gia mớI chống thực dân, việt cộng không bao giờ chống thực dân,
đây là sự thật mà có rất nhiều ngườI không dám hiểu. Một sự thật khác là Việt
cộng gian manh , xảo trá và độc ác hơn thực dân nên đã có nhiều ngườI dân thà
sống vớI thực dân hơn là sống dướI bạo quyền việt cộng. Thực dân Pháp cướp nước
Việt Nam năm 1887 và trả lạI độc lập cho VIệt Nam năm 1947. VIệt cộng cướp
chính quyền Việt Nam năm 1945 và tuyên bố “kháng chiến chống thực dân pháp”
ngày 19 tháng 12 năm 1946- trước khi “kháng chiến” việt cộng đã cấu kết vớI
“thực dân” đánh giết ngườI Việt quốc gia cho tớI khi pháp trở mặt đánh lạI
chúng. Sau khi tuyên bố “kháng chiến”, chỉ có ngườI quốc gia mớI thật sự tiếp
tục đánh pháp cho tớI khi pháp trả lạI độc lập thì lúc đó việt cộng mớI “kháng
chiến” – có nghĩa là việt cộng chỉ đánh phá độc lập của VIệt Nam. NgườI VIệt
quốc gia đã chống thực dân pháp ngay từ lúc thực dân bắt đầu cướp nước Việt
Nam. Tài liệu lịch sử sau đây tóm tắt các cuộc đấu tranh kể từ đầu thế kỷ 20
của ngườI Việt quốc gia chống pháp.
Chính nghĩa quốc gia nhất là đối với người Việt cho dù bị chinh
quyền Bảo hộ cố vùi lấp, vẩn là tiếng gọi vang vọng. Cuộc khởi nghĩa của Đề
Tham ở vùng Phu Thọ và Phú Yên kéo dài đến năm 1913 mới bị dập tắt. Trong khi
đó luôn có những âm mưu đánh đuổi người Phap như vụ Ha Thanh đầu độc (1908), vụ
nổ bom ở Bắc Kỳ do Việt Nam Quang phục Hội thực hiện (1913), việcvua Duy Tan
bôn tẩu (1916), vụ mưu sát Toàn quyền Merlin của Tam Tam Xa (1924), cuộc
Khởinghĩa Yen Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng (1930) làm chính phủ Bảo hộ phải
luôn tìm cách trấn áp.
Vào thế kỷ 20, ở Việt Nam có xuất hiện hai phong trao hiện đại
hóa song song. Phong trào đầu tiên là Đông Du ("Go East"). Phong trào
bắt đầu vào năm 1905 bởi Phan Bội Châu. Kế hoạch của cụ Phan la gửi sinh viên
Việt Nam sang Nhật Bản để học các kỹ năng hiện đại, do đó trong tương lai họ có
thể lanh đạo một cuộc nổi dậy vũ trang chống Phap thành công. Với Hoang tử
Cường Để, ông bắt đầu hai tổ chức tại Nhật Bản: Duy Tân Hội va Việt Nam Công Hiến
Hội. Nhưng do áp lực ngoại giao của Pháp, Nhật Bản sau đó bị trục xuất cụ Phan.
Ông Phan Châu Trinh, người ủng hộ cuộc đấu tranh ôn hoa, bất bạo
động để giành độc lập, dẫn đầu phong trào thứ hai, phong trào Duy Tân (Hiện
đại), trong đó nhấn mạnh giáo dục cho quần chúng, hiện đại hóa đất nước, bồI
dưỡng sự hiểu biết và khoan dung giữa người Pháp và người Việt, và chuyển tiếp
quyền lực trong hòa bình. Phần đầu của thế kỷ 20 đã chứng kiến sự phát triển
của mẩu tự La tinh làm chử Quốc Ngữ cho ngôn ngữ tiếng Việt. Người Việt Nam yêu
nước đa nhận ra tiềm năng của Quốc Ngữ như một công cụ hữu ích để nhanh chong
giảm mù chữ và giáo dục quần chúng. Cac văn bản truyền thống Trung Hoa hoặc chữ
Nôm được xem là quá cồng kềnh va quá khó để học. Việc sử dụng của văn xuôi
trong văn học cũng trở nên phổ biến với sự xuất hiện của nhiều tiểu thuyết; nổI
tiếng nhất là những người từ nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn.
Khi Pháp đàn áp cả hai phong trào yêu nuớc này, và sau khi chứng
kiến các cuộc cách mạng trong hành động ở Trung Hoa và Nga, cách mạng Việt Nam
bắt đầu chuyển sang con đường triệt để. Cụ Phan Bội Châu đã tạo ra Việt Nam
Quang Phục Hội tại Quảng Châu, ông lên kế hoạch kháng chiến vũ trang chống
Pháp. Trong năm 1925, các mật vụ của Pháp đã bắt được ông ở Thượng Hải và áp
tải ông về Việt Nam. Do sự phổ biến va danh tiếng của ông, cụ Phan Bội Châu đã
được tha khỏi án tử hình và bị quản thúc tại nhà cho đến khi ông qua đời vào
năm 1940.
Trong năm 1927, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Đảng Dân tộc Quốc Gia
Việt Nam), mô hình theo Quốc dân đảng ở Trung Hoa, được thành lập, tổ chức vũ
trang Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930 ở Bắc Kỳ thất bại và đã dẫn đến việc Chủ tịch
Nguyễn Thái Học và nhiều nhà lãnh đạo khác, bị bắt và bị hành quyết bởi máy
chém của thực dân Pháp.
Tương tự như chống thực dân Pháp, công cuộc đấu tranh chống việt
cộng – tay sai quốc tế cộng sản (còn được gọI là cuộc chiến quốc cộng) của
ngườI Việt quốc gia đã khởI đầu rất sớm, kể từ khi việt cộng cấu kết vớI thực
dân như được giải thích sau đây: Tại Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, Việt Minh chỉ
điểm cho Pháp bắt bớ tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Tháng 7-1946 Võ Nguyên
Giáp chỉ huy tấn công lực lượng Việt Nam Quốc Dân đảng các tỉnh Thượng du, như
Bắc Ninh, Lạng Sơn, Bằng Giang, chúng giết cả tù binh, tàn sát dã man các thương
binh, đó là những ngày khởi đầu của cuộc chiến tranh Quốc - Cộng. Việt Minh
được Pháp tiếp tế đạn dược đầy đủ nên đã đè bẹp các lực lượng Việt Quốc, Việt
Cách, tàn quân của Quốc gia còn độ một nghìn người chạy trốn sang Tầu.
Cuộc chiến quốc cộng không phảI là nộI chiến vì việt cộng không
phảI là một đãng phái trị của Việt Nam mà là của quốc tế cộng sản. Kể từ đó trờ
đi, trên 3 triệu ngườI Việt Nam đã phảI hy sinh, nhưng những anh hùng quốc gia
vẩn tiếp tục truyền thống của cha ông xã thân cho nước. Từ ông Ngô Đình DIệm,
ông Nguyển văn Thiệu… cho tớI anh hùng Trần văn Bá, và tất cã những chiến sỉ vô
danh đấu tranh quân sự hay chính trị ở trong nước Việt Nam hay khắp nơi trên
thế giớI, đã hy sinh hay vẩn tiếp tục công cuộc đấu tranh để giái phóng VIệt
Nam thoát khỏI gông cùm cộng phỉ và bá quyền tàu cộng, vẩn tiếp tục tranh đấu;
và chính nghĩa quốc gia Việt Nam vẩn sáng ngờI chính nghĩa quốc gia đấu tranh
cho dân tộc sinh tồn.
Đối Lập Là Gì
(Bài viết của GS Nguyễn văn Bông)
I. Định Nghĩa Và Các Quan Niệm Về Đối Lập
Nói đến Dân Chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối
lập, mà đối lập là gì? Và được quan niệm như thế nào?
A. Định Nghĩa
Chúng ta đã dùng nhiều danh
từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử
mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch
trình biến chuyển của chế độ Đại Nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở
ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề. Ý niệm
đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện
tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm: Một sự bất đồng về chánh trị, có tánh
cách tập thể và có tính cách hợp pháp.
1. Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về
chánh trị. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng
hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra, đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại
cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người
dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một
số đông sinh
viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành
rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối
lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ
có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.
2. Là một sự bất đồng về chính kiến. Đối lập phải có
tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng
chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng
họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối
đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân
đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc Tài, Cộng Sản.
Đó không phải là đối lập.
Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có
tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức
của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính
đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.
3. Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập
thể, đối lập phải hợp pháp nữa. Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải
dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chính đảng
phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính
cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối
lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng
chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp
luật.
B. Các Quan Niệm Về Đối Lập
Một khi đã ý thức được danh từ "đối lập" và
nhận định tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then
chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh
túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất
nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị ấy được thể hiện trên bình
diện chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là
kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị. Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả
trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân Chủ Tự Do. Vì đối lập dựa trên
tinh thần khoan dung, trên sự chính đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận
tính cách tương đối của chân lý chính trị.
Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ Nghĩa Tự
Do, Chính Thể Độc Tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính
quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì
những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai
trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng
của quốc gia
mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chính đảng nắm quyền lãnh
đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện
nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi
thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân Chủ,
quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để hoạt động, lợi khí ấy
cần phải được cấm nhặt.
Bị khước từ bởi những chính thể Độc Tài, đối lập chỉ
được thừa nhận trong chính thể Dân Chủ, chẳng những trên bình diện triết lý
chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn
của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của
ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là "nhất tề - nhất trí",
trong những chế độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải
không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải
hoài nghi.
Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại
ngoài hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.
Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân Chủ, lẽ tất nhiên
- dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay
quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong
chính thể, mà chống chính thể Dân Chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên
tắc Dân Chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một
sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân Chủ phải như thế nào. Một vấn đề
hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ
chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.
Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân
Chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối
lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa.
Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong
guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với
những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?
Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của
đối lập và vấn đề qui chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ
cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và
để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.
II- Vai Trò Của Đối Lập
Trong chính thể Dân Chủ thật sự, hiện diện của đối
lập là một điều hết sức chính đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa
nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa.
Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền
nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định, đa số ở đâu ra, chính quyền hiện
tại ở đâu ra, nếu không phải là sự kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên
khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền,
đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.
A. Vai Trò, Hạn Chế Và Kiểm Soát Chính Quyền
1- Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Đó là một trong
những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính
trị. Trước hết, ở giai
đoạn tuyển cử đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ
nhận làm cho chính quyền bỏ bớt thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân,
những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những
quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc
gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.
2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của
những quyết định của nhà nước. Thật vậy, khi mà chúng ta nói đến ý chí của toàn
dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý
chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào
quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và
tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt
buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết
rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại Nghị mà chính phủ có đa số ở
Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ.
Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ,
những lý do của một quyết định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi
một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay bênh
vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận. Vai trò hạn
chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa
trên diễn đàn Quốc Hội.
3 - Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó
trên bình diện nghị viện? Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước
kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân Chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy
phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc
bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc
chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính
quyền hết sức dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại
giữa chính phủ và quốc hội - chung qui giữa chính quyền và đối lập - qua những
cuộc tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên
họp công khai là những dịp mà các vị Dân Biểu đối lập nói lên những lạm dụng
của cơ quan hành chánh, hay nhận được - qua cuộc trình bày của các vị Bộ Trưởng
- tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và
kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc
trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại Nghị, chính phủ bắt
buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này
sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự.
Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình
và trong hành động hàng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối
lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc
phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối
lập mà cho toàn dân, vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định
đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.
4 - Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Vai trò tối
quan trọng này, không phải đối lập luôn luôn đảm đương với tất cả hiệu quả thật
sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn
dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn
đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không
phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến
không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi
tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế.
Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh
hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập
và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và
hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính
quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.
B. Vai Trò Cộng Tác Với Chính Quyền
Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một
khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai
trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung
túng đối lập.
1 - Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí
cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn,
những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ. Bất cứ một chính quyền nào cũng
có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí
và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt
của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính
cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi
khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những
hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình
trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng
tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.
2 - Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương
trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên,
những cuộc tiếp xúc v.v..., tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác
của Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu
của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong
những trường hợp đặc biệt, trong những tình trạng khẩn cấp, tối cần, trong
những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp
ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ
chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc
ngoại xâm.
3 - Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành
công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực
kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính
quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị
chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại
cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn
tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những
gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích
cực. Đối lập, trong chính thể Dân Chủ, cho phép Quốc Gia xoay chiều, đổi hướng
trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh
hoạt chính trị. Đối lập là chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin
tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.
Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực.
Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối
chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình
chính trị trong chính thể Dân Chủ.
Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính
quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ
là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó trong một
bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất
khả xâm phạm và đồng thời đối lập thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những
quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của
đối lập.
III - Qui Chế Của Đối Lập
Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan
niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là
hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân Chủ Tự Do. Đối lập tức là có quyền
xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng
một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải
là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo
quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới
công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ
hai của đối lập.
Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để
có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng.
Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập
xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.
A - Một Trong Những Quyền Hạn Của Đối Lập
1 - Là quyền không thể bị tiêu diệt. Vì đối lập luôn
luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào
đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút
nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn
những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền
sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường
cho Chủ Nghĩa Độc Tài. Đối thoại trở thành độc thoại.
2 - Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu. Và
quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công
cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn
ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu
đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà
các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.
Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa
nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân Chủ. Tính cách tương đối này
được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử
viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc
bầu cử.
Trên bình diện đại nghị, đối lập cần phải được đặc
biệt bảo vệ. Trường hợp Dân Biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là
những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân Biểu là một
thực tại.
Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không
phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính
thể Dân Chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do
tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v.v... là những điều kiện quí giá cho đối lập
luôn luôn bị chính quyền đe dọa.
Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã
đi đến chỗ định chế hóa đối lập. Đối lập trở thành một thực thể có hiến tính.
Đó là trường hợp của Anh Quốc vậy.
Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức
"đối lập của Nữ Hoàng". Và đối lập của Nữ Hoàng có cả chính phủ riêng
của họ, một nội các bóng trong Hạ Nghị Viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ Hoàng là
một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ Tướng tham
dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khảo ý kiến về những vấn đề
chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là "nhà nước lại
phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập".
Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn
và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối
lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy
làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.
Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó.
Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của
đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân Chủ.
B - Những Nghĩa Vụ Của Đối Lập
Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận qui
luật đa số. Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường
hợp mà vị Tổng Thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc
phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỹ thuật của
luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa.
Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận qui luật đa số, tức là thẳng
thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ.
Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn
hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm. Những chỉ trích vớ vẩn, những vu
khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê
bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không
xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như
thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính
đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.
Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại
chính trị, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu
chính trị. Chính phủ luôn luôn là một chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là
tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản.
Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực
hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và
tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá
hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập
không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong
chính phủ.
Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính
đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa
trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc
căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự
do chính trị, nếu chúng ta tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm Phán hay
quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực
tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không
phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền
tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là
chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ
là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập.
Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối
lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại
nữa. Và "Chính Thể Dân Chủ" cần phải có những biện pháp thích nghi để
đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập
phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính
phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích,
đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính Thể Dân
Chủ.
IV - Đối Lập Trong Các Quốc Gia Chậm Tiến
Phác họa như thế, vai trò và "qui chế đối
lập" trong "chính thể dân chủ" qua sự biến chuyển của ý niệm
trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi
rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện
tình những nước vừa thu hồi độc lập.
Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập
nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ
nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân Chủ và đồng thời
cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái
oăm như thế?
Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm
trọng của độc tài Cộng Sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng Sản
đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng Sản. Dung túng đối
lập tức là cho Cộng Sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ.
Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý
thức hệ là đối lập chống chính thể Dân Chủ.
Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng.
Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy
đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như
thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân
của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn
nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc
kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.
Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng.
Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lĩnh vực chính trị và
xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm
sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập
hướng về Dân Chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang
có ở Tây Phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn
bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát
triển.
Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng Sản và những phần tử
phản Dân Chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn,
than phiền của quần chúng.
Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân
dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách
ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai
thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không
những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công
cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân Chủ phải là kết tinh của
hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập.
Giáo Sư Nguyễn Văn Bông
Subscribe to:
Comments (Atom)
